Sign up
Nét đẹp văn hóa qua lời ăn tiếng nói của người Quảng Bình
doanngot0109 | 02 Dec, 2010, 21:14 | Chung | (83 Reads)
      Ngôn ngữ là sản phẩm cao cấp của ý thức con người, là vật chất được trừu tượng hóa và là hệ thống tín hiệu thứ hai của con người. Ngôn ngữ là một phương tiện, một công cụ để con người giao tiếp với nhau, trao đổi tư tưởng và đi đến hiểu nhau hơn. Như vậy ngôn ngữ với chức năng giao tiếp trở thành một trong những động lực quan trọng duy trì sự tồn tại và phát triển của xã hội. 
      Quảng Bình vốn là mảnh đất giao thoa về nhiều mặt văn hóa giữa hai miền đất nước của Tổ Quốc. Do đó riêng về mặt ngôn ngữ, theo các nhà ngôn ngữ học, tiếng nói Quảng Bình được xếp vào phương ngữ Bình Trị Thiên, Nằm trong phương ngữ Bắc Trung Bộ.
Là một người con của Quảng Bình, với niềm đam mê lớn muốn tìm hiểu về những giá trị văn hóa nền tảng nhưng do kiến thức hạn hẹp không đủ sức chuyên sâu về ngôn ngữ học mà chỉ có lòng nhiệt huyết cố công sưu tầm, ghi chép để trình bày đến phạm vi, khía cạnh giới thiệu một số tiếng địa phương của vùng đất huyện Quảng Ninh và so sánh nó với tiếng phổ thông.
      Quảng Bình miền quê gió Lào, cát trắng tựa mình bên dãy Trường Sơn đến ngày đón gió biển Đông dạt dào sống vỗ. Thiên nhiên đất trời đã tạo nên người dân Quảng Bình chất phác, đôn hậu, cần cù lao động, giàu lòng nhân ái và anh hùng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Sống trong khó khăn, chiến tranh nên nghèo khó cứ đeo đẳng con người vùng đất này nhưng họ vẫn không hề nhụt chí, phiền não mà luôn ham sống, yêu đời, chấp nhận thử thách để vượt lên thay đổi như diện mạo ngày nay. Cuộc sống của cư dân vốn nông nghiệp thuần túy nên người dân huyện Quảng Ninh rất căng cơ, khó nhọc quanh năm vất vả với việc đồng áng. Bên cạnh đó, lời ăn tiếng nói nhiều tiếng, nhiều lời rất cổ, khác nhau không những về dấu, về giọng, mà có khi khác nhau cả từ vựng. Đại đa số không phân biệt được dấu hỏi, dấu ngã và thường phát âm ra dấu nặng:
      Bài viết này tôi trình bày một số ngôn ngữ tiếng địa phương của huyện Quảng Ninh- Quảng Bình theo thứ tự a & b. Tài liệu tham khảo qua cuốn sách "Những nét đẹp về văn hoá cổ truyền Quảng Bình của tác giả Nguyễn Tú (2007) (sưu tầm và biên soạn), Nxb Thuận Hoá - Hội văn học nghệ thuật Quảng Bình. Qua sự đối chiếu với "từ điển tiếng việt- của Hồng Mây- Ngọc Xương- Đinh Mẫn- Trần Tú Lăng_ Nhà xuất bản Thanh niên 2008. Trong quá tìm hiểu sưu tầm, và viết bài chắc chắn sẽ gặp những sai sót mong bạn đọc thứ lỗi và mong nhận được ý kiến đóng góp:

      Từ địa phương Quảng Ninh-->Từ phổ thông :
Ả...............................Chị
Ai dè..........................Chẳng ngờ
Ai dủ..........................Ai bảo
Ăn chùng....................Ăn vụng
Ăn mần.......................Ăn làm
Ăn mờng..................Ăn mừng
Ăn quải....................Ăn kỵ(giỗ)
Ba chả ....................to quá
Ba láp ba lúa .............Như ba láp
Ba que xỏ lá ..................Xảo quyệt dối trá
Ba trợn ........................Không đứng đắn
Bả ..............................tát vào má
Bai ...............................vai
Bải hải bơ hơ ....................vô duyên
ban .......................Quả Bóng
Ban .......................san bằng
Bàng .................Vung đậy nồi
Bạng ....................Húc/ chọi/ đấu
Bao bố .................bao tải
bao kẹt .................bao diêm/ hộp quẹt
báp ........................ngô(quả)
băm ..........................chặt
bặn .........................vắt lên
Bắp bả ..................bắp đùi
bắp mỏ ...................Lỗ miệng
Bắt được tay vày được kéng .................bắt quả tang
Bấp .......................Vấp
Bấu ....................Cào
Bây ......................làm dây ra/ tung ra
bây chừ ...................Bây giờ
Be ...................chai nhỏ
bẹ .............xấu hổ
Bọ ..............cha/ bố
Bôống ..............vụng về
Bôộng ..........tổ( tổ ong/ tổ kiến)
Bơng ...............bưng /bê
Cà rởng ..............chơi luê lỏng
Cà lăm ......................Nói lắp
Cà lơ ......................Quê mùa
Cạp ................cắn
Chàng hang ................Dang rộng chân ra
Chành bành ...................Mở rộng quá mức
Dác méng ......................Nước miếng
dai ..............................nhai
Dạy ổ .....................gà đẻ
Dăn dó ...................Nhăn nhó
Dấn .................Nhấn
Den .................nhóm( lửa)
dét ................. nhét
Dịn ....................Nhịn
dòi ................ruồi
dọi ...................chiếu
dởi ..............chơi
Địu ..............Cao su
Đó tê .................Thấy
Đọa ..............mệt
Đọi .................bát
Đơợng ............đựng
Em tam .................Em út
Ệc ....................chậm chạp
in ..................giống
iu xìu .............buồn bả chán nản
gởi ................gửi

Ke................................................ ....Khiêng
Kè...................................Cù rủ
Két.....................................Ghét
Kêu....................................Gọi bằng
Khải......................Gãi
Khỏ.........................Gõ
Khôông.........................không
Khớn..............................Chừa
Khun................................khôn
khứa...........................cắt khúc
La..................................Mắng, Rầy
Lá bín.....................Lá bí (Bí đỏ)
Lác.........................cói làm chiếu
Lái ....................................Lưới
Làng nác ..............................Làng nước
Lảng .....................................Điếc, nặng tai
Lanh.............................................. ....nhanh
Lạt ............................................nhạt (gia vị)
Lảy bảy................................sợ run cả người
Lắc xắc.......................Hỗn hào
Lặt................................thiến
Lấn...................................Xô đẩy
Lâu hoắc ................................................Là ?u lắm
Lẹec .................................Lấy trộm
Lèng >>.....................................lành bệnh
Ló ...................................lúa
Loọc ......................................luộc chín
Mạ ............................mẹ
mạn .............................mượn
Mắc.............................Bận rộn/ Thiếu nợ
Mần nũng ............................Nũng niụ
Mần ri .................................Làm thế này
Mậu .....................................mẫu( ruộng)
Men ....................................ven (bờ đất)
Méng .................................................. ..............Miếng
Méc..............................Mách
Mẹt ...............................................Bé gái
Mê............................................... ......................nằm mơ
Mềng............................. Mình
Miêu.......................................con mèo
Mít nài...........................Mít trái nhỏ, ăn chát, hay ăn với muối
Mít ráo.................................mít dai
Mít ướt...................Mít mật
Mó ..................................sờ
Mọoc............................................ .........mọc
Mói.............................................. ......................muối
Mọi chầu .......................................Ngày xưa
Mô............................................... ..Đâu/ nơi
mô ni................................................ .............Đâu đây
Mô rứa............................................. ...........Đâu thế
Mồng....................................Mào (gà)
Mơi.................................Mai/ ngày mai
Mui.........................................môi
mụt lẹo........................................hột mí mắt
Mược.....................Mặc kệ
Nác ...........................................Nước
Náng ,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,,N ướng
Néec.......................................Nách
Nê...........................................khó tiêu
Ngá .................................................. ngứa
Ngạ............................................. ..Qua nhiều
Óc..........................................hột (quả)
Ôông.........................................ôn g
Ở lổ..............................Trần truồng
Pả...............................Tát/ đánh
phước..................Phúc
Quây............................Trộn xáo
Quẹo ..............................Rẽ sang phía khác
Quẹt...................................không cần/ Không thèm
Quều ............................. khêu
Ra răng..............................Ra sao
Ra rứa.................................Thế đó
Rài.............................................. ....................dài
Ràn ............................... chuồng(động vât)
rành.................................giỏi
Rạnh...................................luống(r au)
Rẻng ...............................thong thả/ không bân rộn
Rinh................................bê
Săng..................................Gỗ
Sắt................................Thắt lại
Tạt ..............................Hất nước vào
Teng.......................Tanh( cá)
Tề .................................................. ..................kìa
Thiệt........................................... ....thật
Thổ............................dõ dành
Tợn............................................. ................................. Dữ
Tra .................................................. .....Già
Trật ......................................hỏng
Ú .......................................mập
Ui ....................................kìa
Vá..........................................Môi/
Vại............................................. ....................vãi ( lúa)
Vặn ....................................Hỏi
Văng.......................................rơi
Xàm.............................................. ...Bậy
Xắn............................................. .Buông/ ném
Xeng.............................................. ..Xanh(màu)
Xóm riềng.......................................Lán g giềng
Xơ rơ...........................................Xơ xác/ tan tành
Xui...............................rủi/ không may
Xuốc...................................Quét
Xước .................................................. ...................rách
      Nét đặc sắc về ngôn ngữ địa phương, nhất là cấu trúc ngôn ngữ tiếng lóng không ai là không nhận thấy. Tuy nhiên, hiểu cho hết được cái hay, cái đẹp ẩn tàng trong việc tổ chức cấu trúc ngôn ngữ địa phương là một điều không dễ. Trong khuôn khổ của bài viết nhỏ, tuy có nhiều cố gắng, nhưng do thời gian và trình độ có hạn, nên bài viết không tránh khỏi những thiếu sót, hạn chế trong việc khảo sát tiếng địa phương của huyện Quảng Ninh. Chúng tôi rất mong được sự đóng góp của quý bạn đọc để bài viết được hoàn chỉnh hơn.Chân thành cảm ơn.

The and

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=267468

Cuộc sống hạnh phúc chúng ta làm gì
doanngot0109 | 17 Sep, 2010, 09:57 | Chung | (54 Reads)

          Cuộc sống này cho ta bao nhiêu vô vàn niềm vui và hạnh phúc nhưng đế đón nhận nó mỗi một chúng ta phải tự biết hoàn thiện nhân phẩm của mình, hãy có một tấm lòng vị tha bao dung độ lượng, thân ái yêu thương mọi người. Hãy sống thật với chính mình, điều đó sẽ đưa bạn đi tới sự thành công và hạnh phúc.

1. Phải có một mục tiêu trong cuộc sống để vươn tới.

2. Luôn luôn mỉm cười

3. Biết chia sẻ hạnh phúc với người khác

4. Sẵn sàng giúp đỡ mọi người 

5. Luôn vô tư

6. Biết cách hòa hợp với những kiểu người khác nhau

7. Đôi khi hãy ngước lên trời, bạn sẽ tìm được điều mà bạn muốn

8. Biết bình tĩnh khi điều bất ngờ xảy ra

9. Hãy biết tha thứ cho người khác 

10. Phải có những người bạn tốt

11. Làm việc với tinh thần tập thể 

12. Hãy coi trọng những phút giây họp mặt gia đình 

13. Hãy tự tin và tự hào về bản thân bạn

14. Biết tôn trọng những kẻ yếu

15.  Hãy làm việc chăm chỉ 

16. Hãy can đảm lên!!! 

17.  Đừng lùi bước khi đối mặt với kẻ ác 

18. Cũng nên biết thư giãn một tí

19. Đừng có quá đam mê tiền

         Có thể chính bạn hoặc ai đó bạn quen đang cần những lời khuyên như vậy, bạn hãy chia sẻ nó như chúng ta đang chia sẻ với nhau ...

St:VDN

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=256320

Hương vị mới của quê hương xứ sở
doanngot0109 | 11 Sep, 2010, 22:43 | Chung | (231 Reads)

         Nhắc đến Quảng Bình người ta thường nghĩ tới vùng đất hai giỏi " chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi ". Trong văn hóa ẩm thực của người Quảng Bình là nói đến sự tận dụng môi trường tự nhiên, mà nổi bật lên là văn hóa ẩm thực đồng bằng và văn hóa ẩm thực miền biển. Bởi thế huyện Quảng Ninh và huyện Lệ Thủy là hai vựa lúa lớn của tỉnh đã đi vào thơ ca:

                   "Nhất Đồng Nai nhì hai huyện" ( Quảng Ninh và Lệ Thủy).

      Chính vì lúa nhiều nên phải nói tới một loài chuyên ăn phá lúa. Đó là " chuột đông". Chuột đồng hằng năm phá lúa nhiều nên bà con phải tích cực bắt. Nhưng ngoài chuyệt bắt chúng để làm gì thì bài viết xin hướng đến nhiều món ăn rất ngon được chế biến từ chuột đồng. Mấy đứa bạn quê tôi thường nói đùa:

                  " Em ơi! Thương anh nhớ về quê anh

                  Cơm trên cá dưới thịt nằm trong hang"

      Thit nằm trong hang ấy chính là chuột đồng. Chuột đồng sống quanh năm dưới ruộng lúa của bà con nông dân. Chúng ăn rất nhiều lúa, tôm, cá, ốc là chủ yếu nên rất dễ bắt, từ việc đào hang để bắt nó đến việc dùng máy rà phát điện buổi tối bắt. Sau khi khi bắt được chuột, việc tiến hành là lột da nó, vứt tất cả nội tạng, chặt luôn bốn chân và đuôi chuột đồng. Công việc này đòi hỏi phải khéo tay vì những lí do chính đáng sau:

   Thứ nhất không được để lông chuột đồng bám vào thịt đã lột da.

   Thứ hai là phải lấy hết nội tạng của chúng một cách sạch sẽ, đặc biệt là phổi của nó. Mới kể qua quy trình làm chuột đồng mà phức tạp và chi tiết tỉ mĩ thế nào. Bởi thế nên việc chế biến thịt chuột mới ngon làm sao?. Thịt chuột mà chủ yếu là huyện Quảng Ninh và Lệ thủy thường làm những món sau đây.

Món chuột đồng nướng:

       Sau khi làm sơ chế qua chuột đồng xong, người ta đem ướp gia vj gồm muối, bột ngot, ớt bột(chilli powder) thật cay vì chuột đồng hơi tanh và phù hợp với chất vị của quê hương hai huyện ( tính cay), kẹp với lá chanh hoặc lá lốt khoảng 5 phút. Sau đó nướng trên lửa than hồng, trong khi nướng phải cho một ít dầu ăn hoặc mỡ lên mình chuột đồng để đỡ cháy sém, vị đặc trưng của món này là chất béo đậm đà của chuột hòa lẫn trong từng thớ lưỡi khi  bỏ vào miệng mỗi người kem theo nó là hương thơm của lá chanh, lá lốt khó mà diễn tả nổi.

    Yêu cầu của món này là thịt chín vàng mơ, ăn nóng có mùi vị đặc trưng của món nướng.

      Món tiếp theo mà tôi nhắc đến là món chủ yếu người ta thường làm với chuột đồng. Đó là món hông chuột.

Cũng giống như trên sau khi sơ chế qua người ta chặt chuột đồng ra những lát vừa ăn, đem ướp với gia vị gồm muối, ớt bột thật cay và không thể thiếu tác dụng của "sả"( lemongrass) giúp khử mùi của chuột đồng đồng thời tăng điều phối triết lí âm dương trong ẩm thực, làm cho món ăn này nhanh nhừ, dòn và thơm, sau khi ướp xong 30 phút, công việc tiếp theo là phải chắt nước trong thịt chuột vừa ướp cho tiếp bột ngọt, hành củ, dầu ăn hoặc mỡ nước vào cho lên bếp rim vừa rệt  khô nước, sau đó nếu ai thích ăn ngọt thì cho một ít đường hoặc không thì thôi, bắc thịt xuống ăn với cơm hoặc nhậu với mọi người rất bắt. Nghe mà khoái phải không mọi người.

Yêu cầu của món này là phải ăn nóng, thịt vừa khô nước không được cháy giống như thịt hông của cầy tơ, thơm mùi vị đặc trưng của sả, thịt dòn và thơm vị béo. Nếu nhậu thì nên uống rượu.

      Món cuối cùng mà tôi xin được gửi đến bạn đọc được chế biến từ chuột đồng là món rôty chuột đồng.

Món này chắc ít ai nghỉ tới phải không, nhưng nó thật đơn giản dễ làm mà lại ngon tuyệt vời các bạn.

      Sau khi sơ chế chuột đồng qua, tùy theo sở thích mà ta nên chặt chuột vừa ăn hay để nguyên con. Chuột đồng chần qua chảo dầu nóng đến độ chín vàng mơ, ta vớt ra giấy thấm cho bớt dầu ăn, bỏ vào một cái chảo nóng khác có dầu phi tỏi và ớt trái, sau đó cho gừng tươi, sả giã nhỏ vào, bỏ chuột đồng đã chần qua dầu vào, thêm một ít bơ (butter), đường vì món rôty là hơi ngọt nhưng tùy theo khẩu vị từng người mà cho vào và đảo đều đến độ sém chuột là được, cho chảo xuống và xúc ra dĩa bỏ ngò rí vào cho hấp dẫn.

Yêu cầu của món này là chuột vàng bóng của bơ thấm vào, thơm béo ngậy tư nhiên.

      Đó là những món mà tôi đã khảo sát tại hai huyện Quảng Ninh và Lệ Thủy và tiến hành làm, đồng thời tự tay mình vào bếp và sáng tạo nhiều trong quá trình chế biến. Nếu bạn chưa từng nghe hay chưa từng thưởng thức chuột đồng tại Quảng Bình mà đặc biệt là cách chế biến của hai huyện này thì mong các bạn hãy đến với quê hương chúng tôi với món "Hương vị mới của quê hương xứ sở" đảm bảo mọi người sẽ thích khoái với nó ngay.

 Đ N: 11/9/2010

NV: VDN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=255140

Đặc sản “khoai” trong văn hóa ẩm thực Quảng Bình
doanngot0109 | 03 Sep, 2010, 19:26 | Chung | (147 Reads)
Normal 0 false false false MicrosoftInternetExplorer4

Mỗi lần nhắc đến Quảng Bình ai cũng nhắc đến câu cửa miệng "Khoai khoai toàn khoai".  Khoai là nhóm lương thực rất giàu tinh bột, và một món ăn chơi rất tốt cho cơ thể chúng ta. Khoai có tác dụng tuần hoàn máu và có lợi cho tiêu hóa cơ thể. Khoai lang là món ăn quan trọng thứ hai sau lúa gạo nên nó là sản phẩm lương thực quan trọng:

                        - Được mùa khoai lang khỏi mang công nợ.

                       - Khoai lang là vàng nghề nông.

                      - Khoai lang là vàng trẻ con.

                     - Sâm nhung không bổ bằng rổ khoai lang.

                    - Không có khoai lang bỏ làng mà đi.

Không những ăn củ, ngọn lá khoai lang còn được dùng làm món rau ăn vừa mát vừa ngon. Kinh nghiệm ăn ngọn khoai lang vào thời kỳ tháng ba là non nhất: "Tháng năm ngọn già, tháng ba ngọn non".

Vào những năm Quảng Bình còn khó khăn, nghèo khổ, củ khoai là món ăn chóng đói "giêng hai khoai bù", đó chính là món khoai luộc và canh bù. Thời vụ giêng hai ra tết, hầu hết mọi nhà đều lâm vào cảnh khó khăn, thiếu thốn, cho nên hai thứ không thể thiếu qua cái buổi này là khoai và bù. Khoai được xem như là một người bạn đắc lực làm cho cái bụng ấm hơn. Từ đó, xuất hiện món ăn cũng khá đặc biệt mà chỉ có ở nông thôn mới có món ăn này "Khoai độn", nghe cũng lạ tai và đúng như cái tên của nó "độn". Để có món ăn này người ta cho khoai, một ít gạo, sắn và ngô là có được món ăn "khoai độn". Đây được xem là một món ăn thập cẩm. Và cũng có thể xem là một nét đặc trưng của những vùng quê còn nghèo của Quảng Bình.

Ngoài món ăn "khoai độn" thì khoai lang còn trở thành nhiều món ăn khác như: Khoai chiên, khoai nướng, khoai deo, khoai luộc và đặc biệt hơn cả đó chính là món khoai chà. Khoai chà tức là khoai lang củ nấu chín rồi chà ra thành bột đem phơi khô. Để chế biến được khoai chà phải trải qua nhiều công đoạn. Khoai sau khi thu hoạch, dùng dao gọt sạch, cắt đầu cắt đuôi, rửa thật kỹ, đổ vào nồi luộc, dưới đáy nồi bỏ một ít lá mía hoặc cây củi, để khi chín khoai không bị nhão và cháy. Khi nấu phải nhiều lửa, đổ nước sao cho nấu trong vòng 30 phút là vừa cạn, nếu đổ nhiều nước quá thì khoai sẽ bị nhão. Vì như thế khoai chín mới ngọt và thơm. Sau khi luộc chín, đổ khoai ra rổ để cho ráo nước, bỏ vào cối giã nhỏ, cho vào rổ có lỗ thưa dùng tay chà sát để khoai lớt hết xuống bên dưới, rải ra nong phơi thật khô, thế là ta đã có khoai chà. Món ăn này rất đơn giản, bình dân, không phân biệt tầng lớp, lứa tuổi, ai thưởng thức cũng đều thấy ngong miệng và rất thích. Đây là món khoai được phần lớn người dân Quảng Bình ưa dùng, có thể ăn điểm tâm, ăn giữa buổi hoặc ăn cùng với cơm cũng rất ngon. Dù gia đình giàu có, những người có danh vọng, có thể ăn nhiều món sang trọng thì món khoai vẫn là món ưa thích:

    Dù rằng ông Ký, ông Cai

                          Cơm no bụng thấy khoai cũng thèm

Khoai được xem là một đặc sản đáng tự hào của người dân Quảng Bình trong văn hóa ẩm thực.Đến với đặc sản khoai Quảng Bình là đến với hương vị, đến với sự tích lũy tinh hoa của đất trời hoà quyện với tình cảm tốt đẹp của tâm hồn con người Quảng Bình. Là món ăn mang đậm hồn quê, mang lối sống mộc mạc, bình dị, căn cơ, chịu khó của người dân Quảng Bình.

Ngày nay, đến với Quảng Bình bạn sẽ thấy những thương hiệu khoai nổi tiếng của huyện Quảng Ninh và huyện Lệ Thủy, một trong những thương hiệu khoai phải kể đến là "Khoai nheo" của bà con vùng cát Hải Ninh. Tất cả mọi quy trình làm khoai nheo để đưa ra thị trường đều qua những công đoạn vô cùng chi tiết, tỉ mỉ và công phu. Sản phẩm đã được quảng bá tại triển lãm làng nghề truyền thống Quảng Bình năm 2009. Vì thế sản phẩm khoai nheo đạt chất lượng cao và được khách hàng gần xa ưa chuộng, thường chọn lấy để làm quà khi ghé qua Quảng Bình.

 ĐN:3/9/2010

NV:VDN



Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=253316

Tiếp xúc văn hóa Đông – Tây ở Việt Nam trong văn hóa ẩm thực.
doanngot0109 | 19 Aug, 2010, 20:25 | Chung | (1397 Reads)

          Khái niệm giao lưu, tiếp xúc, tiếp biến văn hóa được dịch từ những thuật ngữ như cultural, contacts, cultural, exchangs...để chỉ một quy luật trong sự vận động và phát triển văn hóa của các dân tộc. Giao lưu và tiếp biến văn hóa xảy ra khi những nhóm người, cộng đồng, dân tộc có văn hóa khác nhau tiếp xúc với nhau tạo nên sự biến đổi về văn hóa của cộng đồng, dân tộc đó. Tiếp xúc văn hóa tạo nên sự dung hợp, tổng hợp và tích hợp văn hóa ở các cộng đồng. Ở đó có sự kết hợp giữa yếu tố nội sinh và yếu tố ngoại sinh tạo nên sự phát triển văn hóa phong phú, đa dạng và tiến bộ hơn.(*)

Văn hóa phương Tây du nhập vào Việt Nam từ rất sớm, vào khoảng thế kỉ XVI nhưng chỉ thực sự ảnh hưởng từ cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX sau những đợt khai thác thuộc địa của thực dân Pháp và sau này là Mỹ. So với bề dày của nền văn hóa dân tộc thì lớp văn hóa phương Tây tuy mỏng nhưng sự tác động của nó là rất lớn. Văn hóa Việt Nam trong đó có văn hóa ẩm thực tiếp xúc với ẩm thực phương Tây lúc đó qua con đường cưỡng bức, áp đặt bởi sự xâm lược. Sau đó người Việt đã tiếp thu và chọn lọc, Việt hóa các yếu tố bên ngoài làm phong phú thêm nền ẩm thực dân tộc.

Ngày nay, văn hóa Việt Nam giao lưu với văn hóa thế giới một cách tự nguyện và chủ động  đã góp phần làm cho văn hóa ẩm thực Việt Nam tiến gần với ẩm thực thế giới. Qua đó đưa hình ảnh con người và văn hóa Việt đến với bạn bè năm châu.

(*)(Tạp chí Cộng Sản điện tử 26/2/2007)

Về nguyên liệu chế biến.

Ngoài những nguyên liệu cổ truyền mang đậm chất phương Đông, người Việt Nam đã tiếp thu có chọn lọc nguồn nguyên liệu phương Tây góp phần làm phong phú hơn nguyện liệu chế biến thức ăn. Tùy vào điều kiện tự nhiên của mình, người Việt đã chọn những giống cây trồng, vật nuôi của phương Tây thích hợp và đã tạo ra nguồn nguyên liệu có sẵn.

Nhiều loại cây trồng như: khoai tây, cà rốt, hành tây, baro... phân bố chủ yếu ở những vùng có khí hậu mát mẽ như Đà Lạt, Sapa... Để có nguồn sữa tươi, nước ta đã phát triển việc nuôi bò sữa ở một số nơi như: Cao nguyên Mộc Châu, Vĩnh Phúc, Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Cần Thơ, Tiền Giang, ...

Cà phê là một thức uống phổ biến ở Việt Nam được trồng nhiều ở Tây Nguyên, Bắc Trung Bộ. Cà phê Việt tạo ra nhiều thương hiệu nổi tiếng và được xuất khẩu nhiều nước trên thế giới.

Ngoài cà phê, bia cũng là đồ uống được ưa chuộng ở nước ta. Nguyên liệu để sản xuất bia được nhập khẩu từ nước ngoài, từ đó tạo ra nhiều loại bia mang đặc trưng của mỗi vùng miền như bia Hà Nội, bia Huda Huế, bia Larue, bia Sài Gòn...Bên cạnh đó, một số nơi ở nước ta trồng nho để sản xuất rượu vang, như Ninh Thuận, Bình Thuận, Lâm Đồng...

Về món ăn và cách chế biến.

Sự tiếp xúc, tiếp biến của ẩm thực Việt Nam với ẩm thực phương Tây thể hiện rõ qua các món ăn. Nhiều món ăn du nhập vào nước ta được nhân dân ta tiếp nhận sau đó chế biến lại, kết hợp với một số nguyên liệu cổ truyền tạo nên những món ăn mới lạ mang đậm hương vị Việt. Sau đây là một số món ăn tiêu biểu:

 +Bánh mì:

Bánh mì phương Tây thường có hình dáng tròn, vuông còn bánh mì Việt Nam thì làm thành ổ dài. Họ ăn bánh mì với bơ, sữa, xốt mayonnaise ( bánh mì sandwich ) hoặc kẹp với miếng thịt chiên nướng, trứng ốp la, hành tây, xà lách, cà chua...( bánh mì hambuger). Trong khi đó bánh mì Việt Nam xẻ một bên được mô phỏng như cái bánh lọc. Nó kẹp bên trong nào là thịt rim, bánh lọc, cá khô rim, chả, trứng, dưa chuột, rau hành... chan thịt kho, xì dầu.

 +Sa lát:

Sa lát là một món ăn nhẹ phổ biến của người phương Tây được dùng làm món khai vị có tác dụng kích thích vị giác. Món này thường thiên về các loại đồ chua, thịt hun khói, thịt nướng, tôm... và các loại rau (cà chua, xà lách, hành tây...), trái cây dùng kèm với xốt tự chọn. Ở Việt Nam, món này cũng được ưa chuộng nhưng có thêm nhiều nguyên liệu phong phú với nhiều loại rau, củ, quả ( cà tím, đậu bắp, bắp cải...), hải sản, kèm theo nước xốt.

 + Súp:

Súp là món ăn nhẹ thông dụng của châu Âu, có tác dụng kích thích sự ngon miệng, thường được dùng đầu các bữa ăn sau món khai vị hoặc dùng trong bữa tối. Trong món súp nước dùng được nấu từ xương, thịt vụn, rau, củ và các loại gia vị. Ở Việt Nam món này thường được dùng trong các bữa tiệc, được dùng kèm với bánh mì. Nguyên liệu để nấu súp ở Việt Nam gồm: củ cải đường, khoai tây, cà chua, nấm, hành tây, cà rốt, bí đỏ, bắp non, khoai môn, khoai lang, các loại đậu và các loại rau màu, gia vị... kèm theo nước dùng nấu từ thịt xương, heo, bò, gà và các loại thủy hải sản.

  +Nước xốt        

Nếu nước chấm luôn hiện diện trên bàn ăn của người Việt Nam thì nước xốt cũng là một phần không thể thiếu trong các món Âu. Nước chấm không cần pha chế quá cầu kỳ, nhưng xốt được xem là tất cả sự công phu và trình độ tay nghề của người đầu bếp Âu. Sự cộng hưởng của từng loại xốt đúng điệu khiến món ăn dẫu chỉ được tẩm ướp sơ sài cũng bật lên được vị ngon và bản sắc riêng.

Người phương Tây phải căn cứ vào từng loại thực phẩm để chế biến nước hầm. Ví dụ: xốt cho món bò làm từ nước hầm xương bò, xốt từ nước hầm gà cho các món thịt trắng như gà, heo... xốt từ nước hải sản cho cá, tôm, mực, cua. Họ hầu như không dùng nước hầm xương heo chế biến xốt để tránh món ăn bị chua, khó bảo quản. Trong khi đó người Việt cũng kế thừa công thức chế biến nước xốt của phương Tây nhưng chủ yếu được làm từ nước hầm xương heo, gà, bò, kèm theo với cà chua, khoai tây, nấm, và các loại gia vị, phù hợp với khẩu vị của người Việt.

Ngoài ra có một số món ăn Việt Nam khi chế biến được người Việt bổ sung thêm các nguyên liệu để cho món ăn thêm phần hấp dẫn và ngon miệng hơn.

Món mì Quảng, ngày xưa chỉ có mì và nước dùng và một ít rau màu nhưng hiện nay được cho thêm thịt, trứng, tôm, mực, chả, trộn với rau sống.

Nhiều món hầm, tần, om trong lúc chế biến người Việt đã bỏ thêm một ít bia, rượu vang, bơ, để làm tăng thêm mùi vị của món ăn.

 +Đồ ăn nhanh

Đồ ăn chủ yếu là ngoại nhập như đồ hộp, xúc xích, giăm bông, phô mai, bơ, thịt xông khói...Hiện nay, nước ta đã sản xuất được một số đồ hộp như thịt hộp, cá hộp...

 +Một số món ăn ngọt

Kem tươi cũng là đồ giải khát thông dụng vào mùa hè mà chúng ta đã tiếp xúc, tiếp biến của người phương Tây. Trên cơ sở làm kem của họ, chúng ta đã chế biến ra nhiều loại kem với nhiều nguyên liệu đặc trưng như kem chuối, kem mít, kem đậu...

Bánh kem, bánh ngọt, bánh mặn cũng là những món ăn phương Tây đang phổ biến ở nước ta như bánh gatô, bánh bông lan, bánh AFC...

 + Một số đồ uống

Trong quá trình tiếp xúc, một số đồ uống của người phương Tây đã phổ biến ở Việt Nam như cà phê, bia, rượu vang, sữa, nước ép trái cây, sinh tố.

Cà phê là đồ uống được người Việt yêu thích và sử dụng. Người phương Tây thường uống cà phê pha sẵn, nhanh, phù hợp với tác phong công nghiệp. Trong khi đó thì người Việt pha cà phê cầu kì hơn, uống chậm rãi, do ảnh hưởng của tác phong nông nghiệp. Ở một số gia đình khá giả thì uống thêm bia, rượu ngoại. Nước ép trái cây và sinh tố cũng cũng được dùng phổ biến vì ở Việt Nam có nhiều loại hoa quả của vùng nhiệt đới như dừa, dứa, dưa hấu, đu đủ, thanh long, chuối, mãng cầu, sầu riêng...

Ngoài cách uống trà cổ truyền, người Việt Nam đã tiếp thu các loại trà túi của phương Tây như trà lipton, trà nestea...và chế biến ra các loại trà từ nguyên liệu có sẵn như trà gừng, trà chanh...

Về cách trình bày, cách ăn uống.

Ngoài việc nấu ăn ngon thì cách bày biện, trang trí món ăn cũng góp phần làm cho món ăn có tính thẩm mĩ hơn. Cách trình bày, ăn uống theo kiểu phương Tây thể hiện rõ nhất ở các nhà hàng, khách sạn, trong các bữa tiệc. Trong bữa ăn cũng có món ăn khai vị, món ăn chính và món tráng miệng kèm theo với đồ uống trong khi dùng bữa. Ở các nhà hàng, khách sạn hiện nay đã có cách bày biện, cách ăn giống người phương Tây như ăn bằng dao, bằng nĩa, muỗng và ăn theo khẩu phần. Xu hướng này diễn ra nhiều ở các thành phố lớn - nơi xảy ra sự tiếp xúc mạnh mẽ với phương Tây.

+Tiếp xúc văn hóa ẩm thực trong lễ, Tết.

Tết cổ truyền hàng năm là một dịp lễ trọng đại nhất của toàn dân tộc Việt Nam. Tết là nhịp cầu nối mỗi gia đình với nhau thông qua một văn hóa chung, một phong tục tập quán, những nghi lễ truyền thống lâu đời của nước ta. Tết ngày nay có những nét khác so với tết cổ truyền ngày xưa. Ẩm thực ngày tết cũng vậy.

Ngày xưa, trên bàn thờ người Việt luôn đặt những món ăn truyền thống để tỏ lòng  hiếu kính với ông bà tổ tiên như bánh chưng, bánh giầy, mâm ngũ quả, rượu đế... Nhưng ngày nay, cuộc sống được nâng cao, trên bàn thờ lại có thêm rượu tây, bia, bánh hộp... Mâm cơm ngày tết thịnh soạn hơn với những món ăn tiếp biến từ phương Tây. Đó là súp gà, súp thịt, xốt cá, xốt bò...

Không chỉ trong ngày tết mà trong cả các dịp lễ sự tiếp biến ẩm thực phương Tây cũng thể hiện rõ ràng hơn. Trong ngày cưới chiếc áo dài khăn đóng của cô dâu chú rể bên cạnh mâm trầu, khay rượu ngoài ra còn có thêm hình ảnh chiếc váy cưới và bộ comple lịch lãm, sang trọng bên cạnh chiếc bánh gato lớn và tháp rượu sâm banh. Những buổi tiệc ngoài trời cũng là một nét tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Mọi người không ngồi vào bàn ăn mà vừa trò chuyện, khiêu vũ vừa thưởng thức món ăn. Ngày lễ tình nhân đã trở thành ngày lễ quen thuộc đối với giới trẻ chúng ta, chiếc bánh sôcôla cũng trở thành biểu tượng ngọt ngào của tình yêu.

Từ những khía cạnh nói trên có thể khẳng định sự đa dạng trong tiếp xúc, tiếp biến với ẩm thực phương Tây. Điều đó thể hiện trong cả những món ăn, thức uống, cách thức trình bày và cả văn hóa ứng xử trong ăn uống.

Hiện nay, cuộc sống được nâng cao, người Việt có cách nhìn mới về ẩm thực. Ăn uống không còn là một nhu cầu sinh lý được đề cao qua các quan niệm "có thực mới vực được đạo", "ăn chắc mặc bền"... Ăn uống không còn là để no mà người Việt đã chú ý đến chất lượng và tính thẩm mỹ của món ăn. Vì vậy ăn uống không chỉ đem lại sức khỏe mà thưởng thức món ăn còn là một niềm vui. Nấu ăn không chỉ là một công việc nội trợ mà còn là một thú tiêu khiển  mang tính nghệ thuật mà người nấu ăn là một nghệ sĩ.

         Ẩm thực là một trong những nét đặc trưng văn hóa của mỗi dân tộc, quốc gia. Ngày nay, ẩm thực đã trở thành một lĩnh vực nghệ thuật mà nhiều vẻ đẹp và còn nhiều giá trị về nó vẫn chưa được khai thác hết. Trong thời kì xã hội phát triển và hội nhập như hiện nay thì nền văn hóa nói chung và văn hóa ẩm thực nói riêng không thể nào tránh khỏi sự giao lưu và ảnh hưởng của những nền ẩm thực trên thế giới.

       Trải qua một thời gian dài tiếp xúc với ẩm thực phương Tây, người Việt Nam đã thích nghi được với nền ẩm thực của họ. Tất nhiên, từ chổ tiếp xúc để đi đến tiếp nhận cũng cần một thời gian dài. Cũng giống như trước đây, chiếc quần jeans và  bộ complê khi mới du nhập vào nước ta không phải mặc nhiên được người Việt đón nhận ngay, mà một thời gian dài chúng phải sống chung với quần lĩnh, áo the. Hay đối với kiến trúc nhà cũng vậy, người Việt Nam đã đi từ ngôi nhà tre, gỗ để đến với ngôi nhà xi măng cốt thép đổ mái bằng và hơn nữa là biệt thự kiểu Tây rồi ngày nay là nhà vài ba chục tầng. Văn hóa ẩm thực cũng vậy, phải trải qua một thời gian dài thích nghi thì xà lách, khoai tây, cà rốt,... mới trở thành thành phần trong bữa ăn của người Việt Nam.

       Nhìn rộng sang các lĩnh vực khác như văn học, âm nhạc, sân khấu - điện ảnh, múa, nhảy... thì Việt Nam cũng đi từ truyền thống đến hiện đại, hay nói một cách khác thì sau một thời gian tiếp xúc và học hỏi, yếu tố phương Đông đã phối kết với yếu tố phương Tây để làm nên diện mạo mới cho nghệ thuật Việt Nam.

       Nói như vậy không phải là hoàn toàn công nhận những gì của phương Tây cũng tốt còn của Việt Nam ta thì không có gì sáng tạo cả. Ở trên nhiều lĩnh vực, nhất là trong ẩm thực, phương Tây hay phương Đông đều có những đặc trưng riêng, thế mạnh riêng của mình. Sự khác biệt đó là do sự khác biệt về điều kiện tự nhiên và văn hóa. Trước đây, do một số nguyên nhân chủ quan chúng ta khó mà làm quen được với nền ẩm thực của họ thì ngày nay, trên cơ sở hội nhập quốc tế, cuộc sống hoàn thiện hơn, người Việt Nam ta có cơ hội và nhu cầu thưởng thức những giá trị nghệ thuật của phương Tây trong đó có ẩm thực. Trước những món ăn mới lạ và đảm bảo dinh dưỡng của phương Tây thì người Việt Nam hoàn toàn có thể và nên đón nhận, thưởng thức chúng. Không những thế, chúng ta còn cải biến nhiều món ăn, thức uống của họ sao cho phù hợp với khẩu vị và làm giàu thêm vốn ẩm thực cho mình. Đồng thời học tập nhiều kinh nghiệm chế biến và sản xuất của họ, chúng ta đã tạo ra những sản phẩm ẩm thực vừa ngon, vừa bổ dưỡng và đảm bảo sức khỏe, nhiều sản phẩm có thể cạnh tranh với ẩm thực nhiều nước trên thế giới.

       Văn hóa của mỗi dân tộc chính là chiếc cầu nối dân tộc đó với thế giới, và văn hóa ẩm thực cũng là một trong những con đường gần gũi nhất để đi đến sự giao lưu. Trước xu thế hội nhập diễn ra mạnh mẽ như hiện nay nếu chúng ta thực hiện chính sách đóng cửa, khép kín, đứng ngoài các quan hệ với văn hóa nhân loại thì chúng ta đã tự đẩy nền văn hóa của dân tộc đi vào thế cô lập và tụt hậu. Nếu chúng ta biết mở cửa giao lưu và đặt  văn hóa dân tộc vào quá trình tiếp nhận, biến đổi thì đó là biểu thị cho khát vọng lành mạnh về sự hoàn thiện. Tuy nhiên, phải công nhận rằng sự giao lưu văn hóa ngoai nhập cũng mang đến đầy rẫy những "văn hóa phi giá trị" luôn bổ vây, cám dỗ con người. Vấn đề đặt ra là chúng ta phải biết cách lựa chọn hướng đi đúng cho mình.

       Để văn hóa thực sự là "động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội" chúng ta phải khai thác mọi tiềm năng của văn hóa, trong đó có văn hóa ẩm thực.

       Tài liệu tham khảo

1.Nguyễn Thu Hương - Những món ăn ngon Việt Nam - NXB Phương Đông 2007.

2.Nguyễn Ngọc Thêm - Cơ sở văn hóa Việt Nam - NXB Giáo dục 1999.

3.Văn Châu (biên soạn) - Món ăn Việt Nam - NXB Phụ Nữ 2008.

4.Lê Quản - 1008 mẹo vặt

5.Nguyễn Thị Diệu Thảo (2007), Giáo trình văn hóa ẩm thực Việt Nam, Nxb Đại học sư phạm, H.

 6.Trần Ngọc Thêm (2001), Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam, Nxb. Thành phố Hồ Chí Minh.

ĐN: 19/8/2010

NV: VDN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=249808

Phong tục lễ Tết truyền thống ở Quảng Bình
doanngot0109 | 18 Aug, 2010, 07:41 | Chung | (604 Reads)

          Có thể nói rằng, phong tục lễ Tết truyền thống là một nét văn hóa rất đặc sắc Việt Nam. Nó phản ánh được nhiều bình diện, nhiều dạng thức văn hóa, thể hiện được những giá trị, truyền thống tốt đẹp của con người Việt Nam qua bao thế hệ sinh sống. Trong những ngày cuối cùng của tháng Chạp hàng năm, mọi người từ miền xuôi cho tới miền ngược, từ ven biển, đồng bằng cho tới vùng cao, từ nông thôn cho đến thành thị. Tất cả đều chung nhau trong một bầu không khí an lành - bầu không đón Tết Nguyên Đán.

 

 

     

    Quảng Bình với những đặc điểm thiên nhiên đa dạng, với lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước từ khi là "phên dậu" phía Nam của nước Đại Việt, là địa đầu của cuộc chiến Trịnh - Nguyễn phân tranh, là chiến tuyến Bắc- Nam trong chiến tranh chống đế quốc Mỹ... Nơi đây ghi nhận nhiều dấu ấn lịch sử quan trọng, là nơi phân chia, hội tụ của nhiều nền văn hóa. Do vậy, sự biến đổi và phát triển của văn hóa của vùng đất này cũng diễn ra rất phong phú. Vì thế, tìm hiểu "Phong tục lễ Tết truyền thống ở Quảng Bình" sẽ góp phần làm sáng tỏ nét đẹp văn hóa của vùng đất Quảng Bình. Đồng thời làm nổi bật lên giá trị nhân văn trong phong tục, tập quán Quảng Bình. Đây chính là vấn đề tôi muốn đề cập tới các bạn đọc. Phạm vi khảo sát của vấn đề tôi tham khảo trong cuốn sách "Quảng Bình thắng cảnh và văn hoá" do Trần Hoàng chủ biên, Nhà xuất bản Lao động 2007.

Phong tục là những thói quen ăn sâu vào đời sống xã hội từ lâu đời, được đại đa số người Việt thừa nhận và làm theo (phong - gió; tục - thói quen; phong tục là thói quen lan rộng ). Theo Hoàng Quốc Hải trong Văn hóa phong tục thì phong tục là quy ước của cộng đồng về các mặt ăn, ở, giao tiếp, ứng xử. Từ đó nảy sinh ra các tập tục về tín ngưỡng và cao hơn là nghi thức về tôn giáo. Phong tục là thói quen, tục lệ đã ăn sâu vào đời sống xã hội, được mọi người công nhận và làm theo. Theo nghĩa Hán Việt thì "phong" là lối sống: phong hóa, phong tục, phong thổ. Tục là thói cũ: phong tục, là thói có nhiều người theo: thông tục. Như vậy, phong tục là thói quen, nếp sống lan truyền, phổ biến trong dân chúng. 

Trải qua nhiều thế hệ sinh sống trên mảnh đất này, cư dân Quảng Bình hình thành nên nhiều phong tục độc đáo.

          Thờ cúng là nét đẹp văn hoá của người Việt hình thành từ bao đời nay. Phong tục thờ cúng của cư dân Quảng Bình thể hiện ở ba hình thức. Tục thờ vong linh người đã khuất; thờ thần linh; thờ cúng ở đình làng (thiên thần và nhân thần). Tục thờ cúng ở miền xuôi lại khác miền ngược, ở vùng làm nông nghiệp khác vùng ngư nghiệp...Ngoài phong tục thờ cúng trong sinh hoạt hàng ngày cũng hình thành nhiều phong tục khác như: phong tục cưới hỏi, sinh đẻ, ma chay...Đặc biệt ở Quảng Bình còn có tục khuyến học. Các làng văn vật nổi tiếng ở Quảng Bình có tục lệ khuyến khích con em làng mình vượt khó học tập. Nhiều làng quê văn vật đã xuất hiện và ghi nhận từ lâu đời: Sơn - Hà - Cảnh - Thổ / Văn - Võ - Cổ - Kim. Đây là tám làng quê sinh ra những văn nhân xuất thế.

          Có thể nói rằng Quảng Bình là tỉnh có truyền thống lịch sử lâu đời, là mảnh đất tuyến đầu của hai quốc gia Đại Việt và Chiêm Thành, lại là nơi giới tuyến phân chia giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài. Thiên nhiên dù hùng vĩ, đẹp đẽ nhưng khí hậu khắc nghiệt, nhiều đồi núi, đất nhiều vùng cát sỏi, lại nằm trong địa thế tranh chấp giữa hai quốc gia Việt- Chăm, sau này là hai thế lực chính trị Trịnh- Nguyễn. Con người nơi đây phải kiên cường, gan góc mới vượt qua những thử thách đầy gay go. Các đặc điểm trên tạo nên những giá trị văn hoá truyền thống của con người Quảng Bình

          Tết truyền thống hay gọi là Tết Nuyên Đán do chữ Tiết (tức tiết khí,) mà ra, ở đây có nghĩa là lễ hội hằng năm ; Nguyên là bắt đầu và Đán là buổi sáng mai. Như thế Tết Nguyên Đán chính là ngày lễ hội mở đầu cho một năm mới. Từ ngàn xưa, cha ông ta tính thời gian theo sự vận hành của Mặt Trăng. Mỗi tháng bắt đầu vào một ngày của tuần trăng mới. Mỗi năm bắt đầu sau mười hai tuần trăng như thế, nó mở đầu cho một mùa xuân mới, mùa cây cối xanh tươi, đâm chồi nảy lộc. Vào dịp khởi đầu của một năm tất cả mọi người đều vui mừng, hoan hỉ chào đón năm mới. 
          Quảng Bình cũng giống như nhiều vùng quê khác của đất nước ta người dân đã sữa soạn cho ngaỳ Tết bắt đầu từ tháng Chạp (tháng 12 âm lịch). Công việc đầu tiên phải làm là người dân thường đi dãy cỏ, đắp đất, sửa sang lại phần mộ ông bà tổ tiên, những người thân trong gia đình đã khuất. Công việc "xủi mả" hay còn gọi là chạp mả được tiến hành theo từng gia đình và đôi khi cả dòng họ phải làm cho tới ngày 30 Tết.

              Tiếp đến là người dân Quảng Bình cúng ông Táo (hay còn gọi là Tết ông Táo). Theo quan điểm của người Việt thì ông Táo là người ghi chép tất cả những gì con người làm trong năm và báo cáo với Ngọc Hoàng. Ông Táo được cúng vào ngày 23 tháng Chạp Âm lịch hàng năm. Lễ cúng của người dân ngoài hương, nến, hoa quả, vàng mã còn có hai mũ đàn ông, một mũ đàn bà và con cá chép, cá chép sẽ đưa ông Táo vượt qua Vũ Môn để lên Thiên đình gặp Ngọc Hoàng. Qua lễ rước ông Táo người dân Quảng Bình mong muốn năm mới gia đình sẽ gặp nhiều may mắn, hạnh phúc.

          Trong những ngày gần Tết, con cháu trong gia đình dù có đi làm ăn xa cũng phải trở về quê hương để đoàn tụ với gia đình, kính cẩn thắp nén hương cho ông bà tổ tiên để mong cho năm mới gia đình được hạnh phúc, ấm no.. Đây cũng là dịp để bà con, anh em, con cháu quây quần bên nhau để cùng ôn lại lịch sử công đức của tổ tiên, ông bà, và nhắc nhở, động viên nhau trong công việc làm ăn cũng như vấn đề học hành. Từ đó phát huy truyền thống tốt đẹp của gia đình, dòng họ mãi mãi khắc ghi, làm theo.

          Cùng với việc chạp mả là công việc sắm sửa cho ngày Tết. Ngày Tết ở Quảng Bình người dân tấp nập mua sắm, chuẩn bị rất chu đáo. Nhà nào cũng lo chuẩn bị gạo nếp, mua đậu xanh để gần đến ngày gói bánh chưng, bánh tét. 



         
   Họ còn muối dưa hành vào đầu tháng này, bên cạnh đó người dân còn đi chợ sắm sửa những vật dùng cho ngày Tết: Đó là chọn những con gà, bó hương, bánh mứt, rượu... để cúng ông bà vào đêm giao thừa. Bên cạnh đó là việc sửa sang đình làng và sắp đặt lại bàn thờ ông bà tổ tiên. Người dân lau chùi các vật trên bàn thờ, các đồ đồng thì đem đi đánh bóng. Án thư, mâm quả đều đem đi rửa sạch. Bên cạnh đó còn có cả câu đối đỏ. Bàn thờ được chùi rửa và còn được trang trí cả hoa, và bỏ thêm quả. Nhà nào nhà nấy cũng lo lau quét nhà cửa, trang hoàng lại trong nhà mình được sạch đẹp hơn. Đường thôn, ngõ xóm quét dọn sạch sẽ, phong quang. Dân các làng biển ở Quảng Trạch còn gánh cát về rải khắp đường, khắp ngõ. Chợ làng, chợ huyện, rộn ràng được mở ra. Chợ phiên 26- Ba Đồn, chợ bến Đồng Hới (họp ở xóm Câu) là những phiên chợ lớn, rất nhiều hàng hoá, tấp nập người mua sắm. Ngoài những hàng lương thực lúa gạo, khoai sắn, hàng lâm sản, hải sản chợ nào cũng đầy đủ vải vóc, áo quần, hoa quả, bánh kẹo và đồ chơi Tết. Nhìn vào buổi chợ chúng ta sẽ bắt gặp một điều đặc biệt là những em nhỏ đang cùng với mẹ, hoặc được chị mua cho những chiếc áo quần mới, hay con tu huýt bằng đất nung đủ màu....Chợ Tết ở Ba Đồn hay chợ Đồng Hới không những là nơi để mua bán, trao đổi sản phẩm mà ở đây còn là nơi diễn ra các hoạt động văn hoá, văn nghệ rất vui tươi, rộn ràng. Nào là các trò chọ gà, hát bài Chòi, bài Thai, hát nhà trò.... thu hút nhiều người tham gia, cổ vũ làm tăng thêm không khí náo nhiệt của buổi chợ.

          Do quan niệm cả năm làm việc vất vả, đến ngày Tết là để vui chơi, hưởng thụ, thắt chặt thêm tình cảm gia đình, làng xóm. Công việc chuẩn bị cho việc ăn Tết, các gia đình thường mua sắm, chế biến các món ăn, các loại bánh mang đặc sắc của mỗi vùng trong tỉnh. Vùng ở Tuyên Hoá, người dân hay làm bánh dì bánh ít. Đây là một loại bánh được làm từ bột gạo kèm theo nhân đậu xanh hoặc nhân thịt, sau đó hấp lên. Những người dân ở các huyện như Quảng Ninh, Lệ Thuỷ thường làm bánh gạo, bánh xoài, mứt... nguyên liệu được lấy từ sản phẩm nông nghiệp của vùng làm ra. Vùng biển Quảng Bình hay làm bánh dừa (bánh dùng lá dừa để gói) ngoài ra họ còn làm thêm cả cá chuối từ quả chuối qua công đoạn sao sấy, phơi khô, chế nước lèo từ trái cây....    
      Đặc biệt nhà nào cũng chuẩn bị một nồi cá kho tuỳ theo nơi ví như vùng biển thì có cá biển ngon là cá thu, cá thiều, cá buôi....vùng đồng bằng thì có cá quả, cá trắm, cá gáy... Đây được xem là một món ăn quen thuộc trong cơ cấu bữa ăn hằng ngày nhưng trong ngày Tết vẫn được xem trọng vì trong cuộc sống bình thường, trên quan điểm "ăn chắc mặc bền" người Quảng Bình lấy cơm rau, cơm cá, cơm nước mắm làm bữa ăn chính. Bữa ăn nào có cá đối với họ là một bữa ăn ngon và sang trọng.

          Những công việc cuối cùng của việc chuẩn bị trước Tết là dựng cây nêu trước nhà. Cây nêu là một cây tre cao khoảng 5- 6 mét. Ở ngọn thường treo nhiều thứ (tùy theo từng điạ phương trong tỉnh) như vàng mã, bùa trừ tà, cành xương rồng, bầu rượu bện bằng rơm, hình cá chép bằng giấy (để Táo quân dùng làm phương tiện về trời), giải cờ vải tây, điều (màu đỏ), đôi khi người ta còn cho treo lủng lẳng những chiếc khánh nhỏ bằng đất nung, mỗi khi gió thổi, những khánh đất va chạm nhau tại thành những tiếng kêu leng keng nghe rất vui tai... Người dân Quảng Bình tin rằng những vật treo ở cây nêu, cộng thêm những tiếng động của những khánh đất, là để báo hiệu cho ma quỷ biết rằng nơi đây là nhà có chủ, không được tới quấy nhiễu...Cây nêu cũng chính là dấu hiệu báo rằng ngày Tết đã đến.

      Ngoài ra một số vùng ở Quảng Bình có tục tắm tất niên bằng lá thơm mang ý nghĩa gội rửa những gì bụi bặm, xui xẻo của năm trước và để bước vào một năm mới với mong muốn sức khoẻ bản thân luôn khoẻ mạnh, sạch sẽ, mới mẻ.

Ngày Tết của người Quảng Bình không thể thiếu câu đối, bánh chưng. Nhà nào dù nghèo hay giàu cũng phải gói được vài cặp bánh chưng, có được ít nhất một cặp câu đối Tết. Trên bàn thờ bao giờ cũng có một nải chuối cau. Nải chuối cau tượng trưng cho bàn tay của ông bà, tổ tiên che chở, phù hộ cho gia đình mình. Bên cạnh nải chuối là bánh chưng. Bánh chưng là thứ bánh không thể thiếu trên bàn tờ gia tiên. Bánh chưng tượng trưng cho mặt đất, cho tấm lòng hiếu thảo của con cháu đối với ông bà, tổ tiên. Hai bên bàn thờ gia tiên là cặp câu đối Tết thường có màu đỏ hoặc vàng. Câu đối do chủ nhà chọn mua hoặc thuê người viết, thường có nội dung nói về công ơn sinh thành của cha mẹ, về đất nước, về cuộc sống ấm no, hạnh phúc, thanh bình..

 Phần lễ Tết của người Quảng Bình được thể hiện long trọng. Chiều 30 Tết sau bữa cỗ đón tất niên, các gia đình quây quần bên nhau cùng trò chuyện, chơi bài hoặc nấu bánh....Tết thực sự bắt đầu khi chiêng trống ở đình làng nổi lên báo hiệu giờ giao thừa đã đến. Lúc này tất cả mọi thứ như hoa quả, bánh chưng, bánh tét, gà lễ, kẹo bánh, rượu thuốc.....đều được đặt lên bàn thờ tổ tiên.   Những người đúng đầu trong gia đình tiến hành thắp nhang kính cẩn vái lạy trời đất, tổ tiên, ông bà đã về chung vui trong Tết với con cháu. Họ trình bày truớc vong linh những việc đã làm trong năm qua, những việc chưa làm được và cầu mong sang năm mới trời đất, tổ tiên, ông bà phù hộ độ trì cho con cháu khoẻ mạnh, gặp nhiều may mắn, ăn nên làm được, mùa màng bội thu, con cái học hành thật tốt.... Ở làng biển Cảnh Dương (Quảng Trạch) vào giờ giao thừa có tục đi lấy lửa từ đình làng về. Người dân đồn rằng: Ngọn lửa thiêng của làng sẽ mang lại cho mỗi gia đình sự ấm no, hạnh phúc và vì thế người ta hết sức trân trọng, gìn giữ ngọn lửa lấy được đem về nhà mình và cho nó không bị tắt trong suốt ba ngày Tết. Có lẽ chính vì điều này mà người Quảng Bình có tục kiêng xin lửa ngày đầu năm. Một số nơi ở Quảng Bình, sau khi giao thừa xong người ta đi hái lộc đầu năm với mong muốn mình sẽ gặp được nhiều điều may mắn trong năm tới.

Những điều kiêng cự nhất trong những ngày Tết của người dân Quảng Bình thường là không nên nói tiếng to lớn, la hét, con cái không được khóc lóc nói điều xấu, hay là không quét nhà vào sáng mồng một, chuyện mượn tiền của người khác... Đặc biệt là kiêng đi chúc Tết vào sáng mồng một Tết nếu không được gia chủ mời vì sợ rằng mình sẽ mang đến điều không tốt đẹp cho chủ nhà trong năm mới. Theo phong tục xông đất, người đầu tiên bước vào nhà ai trong ngày mồng một Tết chính là người quyết định đem lại sự may mắn hoặc xui xẻo cho gia đình ấy trong cả năm. Vì thế đa số người đi xông đất là những người làm ăn phát đạt, gặp nhiều may mắn, nhẹ vía và là bà con thân thích trong gia đình, dòng họ được chỉ định trước...

Sáng mồng một, nguời dân Quảng Bình thường đi thăm hỏi ông bà, cô chú bác, anh em bên ngoại bên nội, tiếp đến là thăm thầy giáo cũ. Mọi người tặng quà cho nhau và chúc nhau những lời chúc tốt đẹp đầu năm, sau đó mới đến là thăm hỏi bạn bè, láng giềng. Ngoài những lời chúc thì người dân thường đề cập đến chuyện làm ăn, buôn bán, học hành qua đó để trao đổi kim ngiệm với nhau, giúp nhau trong cuộc sống sắp tới....

Thành ngữ Việt Nam có câu "đói giỗ cha, no ba ngày Tết". Tết đến, dù nghèo khó đến đâu thì người ta cũng cố vay mượn, xoay xở để có đủ ăn trong ba ngày Tết sao cho "trẻ có bát canh, già được manh áo mới". Vì vậy mà người dân Quảng Bình cũng thường gọi là "ăn Tết". Dân làng biển, ngày Tết dù không sang trọng như chốn kinh kỳ, mâm cỗ Tết của người dân vùng biển vẩn đậm đà nhiều hương vị, mang nhiều sắc thái địa phương, đa dạng, phong phú về các loại thức ăn chế biến từ cá, tôm, cua, mực....

"Tết về câu đối, bánh chưng

Chẳng ham giò, chả, chỉ "ưng" ngứa choè"

Ngoài cơm, cá thường lệ ngày Tết ở Quảng Bình còn có: Bánh truyền thống: bánh chưng, bánh dầy, bánh tét...Đây cũng là các loại bánh đặc trưng cho phong tục ăn uống ngày Tết ở Việt Nam. Bánh chưng và bánh dầy còn được gắn với các sự tích cổ của các vua Hùng, tổ tiên của người Việt.

Cỗ Tết: dịp Tết người Quảng Bình thường tổ chức ăn uống, gọi là ăn cỗ. Các món cỗ trong nhiều gia đình có thể có nem rán, xôi gấc, xôi đỗ, thịt , nộm, dưa hành muối...

          Mứt Tết và các loại bánh kẹo khác để thờ cúng, sau đó dọn ra để đãi khách. Mứt có rất nhiều loại như: mứt gừng, mứt bí, mứt dừa, mứt mít, mứt khoai...

Kẹo bánh thì đa dạng hơn như: Kẹo bột, kẹo dồi, kẹo vừng (mè), kẹo dừa, kẹo cau, bánh chè lam... Ngoài ra, Tết còn có hạt bí....

Thức uống ngày Tết phổ biến nhất ở Quảng Bình vẫn là rượu. Các loại rượu mang hương vị của vùng miền như rượu trắng ở Võ Xá, rượu dâu Thuận Lý... thường được dùng và đã đi vào tục  ngữ ca dao:

"Nam sâm Bố Trạch

Cua gạch Thanh Khê

Sò nghêu Quán Hàu

Rượu dâu Thuận Lý"

 Bên cạnh ấy là người ta thường dùng nước chè xanh. Người dân thường nói với nhau rằng "Mạnh vì gạo, bạo vì chè" là bởi thế.

          Những ngày Tết, người dân thường kéo nhau ra đình làng, sân chùa dự lễ hội. Nhiều làng đã tổ chức "rước thần du xuân" Lễ rước cổ, cổ gà, cổ bánh thực sự là những mâm cổ cao sang, được làm hết sức chu đáo và tỉ mỉ với sự tài hoa của người nội trợ. Đó là xôi nấu trăm hạt nở như một, gà luộc đến mức không có một vết rạn nhỏ, bánh làm hàng chục thứ, phong phú về loại bánh. Từ bánh ngọt đến bánh mặn, đủ món đủ loại. Qua đó để ta thấy rằng, người dân Quảng Bình chuẩn bị việc cho lễ cúng thần đặc biệt hết sức coi trọng. Tuỳ mỗi làng, mỗi vùng mà người ta tổ chức những trò vui khác nhau trong dịp Tết. Ở huyện Lệ Thuỷ và huyện Quảng Ninh thì thường hay tổ chức đua thuyền trên sông Kiến Giang, sông Nhật Lệ, hay trò chơi đu, hát bài Chòi đến chọi gà.


                            Đua thuyền trên sông Kiến Giang
       Ở Bố Trạch có trò đánh cù, huyện Quảng Trạch có tró chơi đánh cờ người, nấu cơm, thi cơm cần, v.v... Trò vui nào nào cũng thu hút đông đảo người dân tham gia và hơn hết là mang tính văn hoa cao. Đặc biệt ở Quảng Bình có "lục niên canh độ" là hội bơi trải trên sông Nhật Lệ. Lễ hội này thường có bốn làng tham gia: Động Hải, Hà Thôn, Phú Đại, Cửa Thôn. Lúc hội đua đến lúc quyết liệt thì nhịp mõ khẩn trương, với tiếng hô "huơ.. huơ ...  huơ ...hò..hụi...". Vào ngày cuối cùng của ngày hội người ta tổ chức lễ buông phao nhằm tưởng nhớ những người tử nạn trên sông nước. Các trải lướt từ từ và đồng thanh cất lên một điệu hát trầm buồn:

"Ôm... phao... phao... mà ...về...

Ôm... phê... phê... mà... vào..."

           Đó là những tiếng hò, tiếng hát xuất phát từ cảnh gặp nguy hiểm trên biển cả. Đó như là tiếng kêu cứu, là lời trăn trối cuối cùng của người chịu chết nhường phao lại cho người thân "cố gắng ôn chặt lấy phao" mà về với gia đình.

      Lễ hội này xuất phát từ ước vọng rèn luyện sự nhanh nhẹn, tháo vát, khéo léo, rèn luyện sức khoẻ và khả năng chiến đấu. Lễ hội mang tính chất tâm linh, giải trí nhưng chứa đựng tư tưởng nhân văn sâu sắc.

     Trong những ngày Tết có một hoạt động ở các làng quê Quảng bình rất được chú ý. Đó là những hoạt động mang tính chất nghi lễ nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, thương nghịêp. Nguời miền núi ở huyện Tuyên Hoá và  huyện Minh Hoá có lễ "khai sơn" , người làm ruộng có lễ "khai mương", lễ "xuống đồng" ở một số vùng Lệ Thuỷ, Quảng Ninh, lễ "xuất hành" của những người đi biển và lễ "mở hàng" của những người dân buôn bán ở chợ Ba Đồn và chợ Đồng Hới. Tất cả những nghi lễ này đều mang ý nghĩa cầu xin thần linh phù giúp cho việc làm ăn của mọi nhà gặp nhiều thuận lợi và thu gặt kết quả cao. Đó cũng chính là ước vọng tha thiết, chân thực của những con người suốt đời mình lam lũ, vất vả, khó nhọc để làm ra thành quả lao động phục vụ cuộc sống xã hội.

     Tuỳ theo điều kiện gia đình mà lễ hạ nêu (hay còn gọi là lễ đưa ông bà về nhà cũ) diễn ra sớm hay muộn. Tuy nhiên do đặc trưng nghề nghiệp và cuộc sống người dân còn gặp nhiều khó khăn nên lễ hạ nêu của người dân Quảng Bình thường diễn ra sau ngày 3 Tết. Ngưòi dân với tấm lòng thành nên có gì thì dâng cúng lên trời đất, tổ tiên, ông bà. Sau khoảng thời gian Tết mọi công việc của người dân lại trở về bình thường.

Ngoài ngày Tết Nguyên Đán người dân Quảng Bình cũng có những ngày Tết khác như: Tết Nguyên Tiêu, Tết Đoan Ngọ, Tết Trung Thu...Các ngày Tết này tuy không tổ chức trọng thể như ngày Tết Nguyên Đán nhưng cũng rất được coi trọng. Tết Nguyên Tiêu nhằm ngày rằm tháng Giêng. Người Quảng Bình dù theo Phật giáo hay không thì cũng biết câu: "Lễ cả năm không bằng rằm tháng Giêng". Thế nên, ngày này gia đình nào cũng làm lễ cúng rất trọng thể. Ngày Tết Trung Thu là ngày Tết chung cho tất cả mọi người. Theo các nhà thiên văn học đây là ngày trăng tròn nhất trong năm. Theo phong tục người Việt, vào dịp Tết Trung Thu, cha mẹ bày cỗ cho các con để mừng Trung Thu, mua và làm đủ thứ lồng đèn thắp bằng nến để treo trong nhà và để các con rước đèn. Cỗ mừng trung thu gồm bánh Trung Thu, kẹo, mía, bưởi và các thứ hoa quả khác nữa. Đây là dịp để cha mẹ tùy theo khả năng kinh tế gia đình thể hiện tình thương yêu con cái một cách cụ thể. Vì thế, tình yêu thương trong gia đình càng thêm gắn bó. Ngày Tết này phần lễ được tổ chức đơn giản nhưng quan trọng là phần hội. Rằm Trung Thu là ngày vui chơi, ngày Tết của các cháu thiếu niên, nhi đồng. Người lớn bày những mâm cỗ với nhiều loại hoa quả, làm đèn ông sao, đèn táo quân cho các em nhỏ rước đèn...

  Các ngày Tết Nguyên Đán, Tết Đoan Ngọ hay Tết Trung Thu...là dịp người dân cúng bái cầu cho gia đình, làng xóm, đất nước được bình yên, no ấm...là dịp nghỉ ngơi, vui chơi thể hiện tinh thần gắn kết của cộng đồng của cư dân Quảng Bình. Tết là ngày thiêng liêng trong năm, mỗi ngày Tết có cách thức cúng lễ khác nhau. Lễ Tết là một nét đẹp phong tục, tập quán của cư dân Quảng Bình.

Tết truyền thống hàng năm là một dịp lễ trọng đại nhất của toàn dân tộc Việt Nam nói chung và người dân Quảng Bình nói riêng. Tết là nhịp cầu nối mỗi gia đình với nhau thông qua một văn hóa chung, một phong tục tập quán, những nghi lễ truyền thống lâu đời ở trên xứ sở quê hương. Phong tục Tết Quảng Bình ngày nay có những nét thay đổi so với phong tục Tết truyền thống ngày xưa. Có thể điểm qua vài nét sau:

          Một số phong tục Tết truyền thống bị lãng quên hay mai một dần như tục thờ cây nêu ngày Tết ở một vài nơi đặc biệt là ở thành phố và thị trấn hiếm thấy, các trò chơi dân gian trong dịp Tết ít gặp như chọi dế, chơi đu, chơi pháo tép...Thay vào đó là khung cảnh vui chơi, ăn uống, không khí rộn ràng bởi ai cũng muốn ra đường ngắm phố, ngắm người hoặc xem bắn pháo hoa ở tại thành phố Đồng Hới vào đêm giao thừa. Thời gian vui chơi trong dịp Tết kéo dài hơn nên mọi người tự tìm cho mình một sở vui chơi.        

          Do đời sống của người dân ngày càng thay đổi nên phong tục tặng quà trong ngày Tết hết sức phong phú từ kẹo bánh, hoa quả đến rượu bia hay lì xì tiền trong dịp Tết. Ẩm thực ngày Tết ở Quảng Bình cũng có những nét mới.

Ngày xưa, trên bàn thờ tổ tiên, ông bà, người dân Quảng Bình luôn đặt những món ăn truyền thống để tỏ lòng hiếu kính với ông bà, tổ tiên như bánh chưng, bánh giầy, mâm ngũ quả, rượu đế... Nhưng ngày nay, cuộc sống được nâng cao, trên bàn thờ lại có thêm rượu tây, bia, bánh hộp... Mâm cơm ngày Tết thịnh soạn hơn với những món ăn tiếp biến từ phương Tây. Đó là súp gà, súp thịt, xốt cá, xốt bò...

          Như vậy những thay đổi trong phong tục lễ Tết truyền thống Quảng Bình là quy luật chung của xã hội Việt Nam trong xu thế hội nhập hiện nay, và nhận thức của con người trong tác động của kinh tế thị trường nhằm phù hợp với đời sống mới. Vấn đề đặt ra ở đây là nêu cao ý thức với mọi người dân Quảng Bình về bảo tồn và phát huy những giá trị tốt đẹp của phong tục Tết truyền thống Quảng Bình.

Phong tục lễ Tết của người Quảng Bình in đậm dấu ấn của quê hương, xứ sở. Khi đông hết, Tết đến người người, nhà nhà nô nức sắm sửa chuẩn bị đón xuân. Trong dịp này gia đình sum họp, không chỉ những người sống mà linh hồn của ông bà, tổ tiên cũng về hội ngộ cùng con cháu. Năm cũ qua đi, năm mới đến, người ta cầu mong những điều tốt lành đến với gia đình, xóm làng, đất nước. Việc cúng bái ngày Tết là truyền thống tốt đẹp của người Quảng Bình nói riêng và người Việt nói chung. Phong tục Bắc, Nam mỗi nơi mỗi khác nhưng đều là con Lạc, cháu Hồng, đều câu đối đỏ, bánh chưng xanh.

 Nét đẹp trong ngày Tết cổ truyền của người Quảng Bình chính là những quan niệm về cách ăn Tết. Ngày Tết không cần mâm cao cỗ đầy, không cần sơn hào hải vị mà người ta chuộng những sản vật bình dị gần gũi với họ. Ngày Tết còn là dịp để tổ chức vui chơi, thăm hỏi, chúc tụng nhau. Các trò chơi ngày Tết thường biểu thị tinh thần đoàn kết tập thể mang lại sự hân hoan, phấn khởi cho cả người chơi và người xem. Vì thế ăn Tết, chơi Tết như thế nào cũng thể hiện nét văn hoá riêng của mỗi vùng quê.

          Nét đẹp phong tục lễ Tết Quảng Bình là những giá trị văn hoá kết tinh nên từ hàng ngàn đời nay. Các thế hệ cha ông đi trước đã truyền lại cho con cháu những truyền thống, những tập tục tốt đẹp. Từ đó chúng ta thế hệ trẻ nên có ý thức bảo tồn và phát huy những giá trị phong tục Tết truyền thống Quảng Bình, nhằm lưu giữ được nét văn hoá độc đáo của vùng đất, quê hương hai giỏi: "Chiến đấu giỏi, sản xuất giỏi".

          Trước hết cần phải tuyên truyền, đổi mới và nâng cao nhận thức cho mọi tầng lớp nhân dân về vai trò, vị trí, ý nghĩa của các giá trị văn hoá truyền thống nằm trong phong tục. Mà nổi lên là vấn đề lưu giữ, bảo tồn những phong tục tốt đẹp ngày Tết nói riêng và các phong tục khác nói chung. Đây là yếu tố rất quan trọng góp phần vào việc giữ gìn và phát triển văn hoá dân gian Quảng Bình. Phải coi việc giữ gìn phát huy giá trị văn hoá truyền thống của phong tục ngày Tết là tâm huyết, trách nhiệm của mọi người, mọi thế hệ nhân dân Quảng Bình.

          Giữ gìn và phát huy nét đẹp phong tục lễ Tết truyền thống phải đi đôi với việc bài trừ mê tín, dị đoan, khắc phục hủ tục lạc hậu hoặc gây nên tốn kém, lãng phí ảnh hưởng đến đời sống của người dân trong dịp Tết. Bảo tồn và phát huy những giá trị văn hoá truyền thống trong phong tục Tết là một khâu quan trọng trong việc xây dựng quê hương Quảng Bình phát triển, giàu đẹp trong thời đại mới. Để cho văn hoá vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế, xã hội của quê hương, tiến bước vào công cuộc xây dụng đất nước văn minh, giàu mạnh.


Một góc của thành phố Đồng Hới

      Quảng Bình miền quê gió Lào, cát trắng tựa mình bên dãy Trường Sơn đến ngày đón gió biển Đông dạt dào sống vỗ. Thiên nhiên đất trời đã tạo nên người dân Quảng Bình chất phác, đôn hậu, cần cù lao động, giàu lòng nhân ái và anh hùng trong chiến đấu chống giặc ngoại xâm. Sống trong khó khăn, chiến tranh nên nghèo khó cứ đeo đẳng con người vùng đất này nhưng họ vẫn không hề nhụt chí, phiền não mà luôn ham sống, yêu đời, chấp nhận thử thách để vượt lên thay đổi như diện mạo ngày nay. Hơn 60 năm qua trên mảnh đất này đã in dấu biết bao chiến công chói lọi. Quảng Bình là niềm cảm hứng vô tận cho bao thế hệ các nhà văn hóa tìm hiểu, nghiên cứu, các nghệ sĩ dâng trào cảm xúc viết về quê hương xứ sở, con người, thắng cảnh và các sinh hoạt phong tục, tập quán, lễ hội mãi mãi đi vào kí ức trong mỗi người dân Quảng Bình nói riêng và người Việt Nam nói chung.

   Phong tục lễ Tết truyền thống ở Quảng Bình là kết tinh những giá trị văn hoá mà cha ông truyền lại từ hàng ngàn đời nay. Phong tục lễ Tết mang đậm dấu ấn của thiên nhiên, con người và văn hoá nơi đây. Đó chính là dấu ấn văn hóa của cư dân nông nghiệp lúa nước và đồng bằng ven biển.

 

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=249393

Chuyến đi thực tế của lớp 08 cvhh
doanngot0109 | 11 May, 2010, 21:54 | Chung | (424 Reads)
Chuyến đi thực tế của sinh viên 08cvhh  khoa Ngữ văn trường ĐH SPĐN




    Ngày 07/03/2010 vừa qua, sinh viên chúng tôi lớp 08cvhh  khoa Ngữ văn, trường ĐH SPĐN  đã có một chuyến đi thực tế thú vị, vui vẻ, và bổ ích.

Xuất phát từ trường ĐHSP Đà Nẵng đi về hướng Nam, vòng qua ngã ba Huế vào Quảng Nam. Trên đường đi, chúng tôi vừa ca hát vừa nô đùa với nhau thật là vui. Nơi đầu tiên chúng tôi đến là Thánh địa Mĩ Sơn vào lúc 8h45. Trời nắng như mùa hè càng làm cho Mĩ Sơn thêm giá trị khi ở trong những ngôi nhà mát lạnh.


   Tường ở đây chổ dày nhất là ba mét, chỗ mỏng nhất cũng sáu mươi cm, gấp ba, gấp sáu lần tường nhà thông thường. Những viên gạch được xếp khít nhau, chạm khắc tinh vi, thể hiện cả một nền văn hóa, đời sống, triết lí của người Chăm ngày xưa. 


   Chúng tôi cùng đi tham quan  quanh các vị trí của khu thánh địa tình cờ gặp các cô thầy khoa Ngữ văn cũng đi thăm quan ở đây.Vì thế mọi người rất vui mừng nên đã cùng chụp ảnh với các thầy cô.

Sau đó mọi người nghỉ ngơi và ăn nhẹ buổi trưa trong những niềm vui của những cảnh nô đùa nghịch ngợm .
 

   Được xem một buổi tổ chức văn nghệ và mâm cúng của người Chăm Bani Ninh Thuận thể hiện giá trị văn hoá tâm linh của đồng bào Chăm.Qua những điệu múa đặc sắc và nghi thức cúng thật đặc biệt.




   Đoàn trở về Hội An, đó những ngôi nhà cổ xếp kế tiếp nhau dài thành dãy, không gian yên tĩnh cho cảm giác nó thực sự cổ kính hơn phố cổ khác tại Hà Nội hay ở Huế.


Nếu như phố cổ Hà nội kinh doanh nhiều mặt hàng, thường bán buôn, khu phố sầm uất, tấp nập, nhiều xe cộ đi lại thì phố cổ Hội An bán lẻ nhiều và chủ yếu bán cho khách du lịch những đồ thủ công, đồ truyền thống của Việt Nam như đồ lụa: quần áo thông thường, áo dài, túi sách, khăn..., đồ gốm : bộ mười hai con giáp, đồ dùng ở bếp như muôi, bát..., hộp để nữ trang...

Khu phố thấp, nằm lặng lẽ bên sông như người con gái truyền thống miền Trung. Người đến đây chủ yếu đi bộ, đi xe đạp tham quan, mua sắm, ăn uống. Nét cổ kính của nhà, giọng ngọt ngào của người bán hàng làm nên một Hội An riêng biệt.


   Chiếc xe cứ chạy đều, chúng tôi về  đến với Bãi Bụt với lòng dạt dào cảm xúc.


   Chúng tôi ghé vào tượng Phật bà Quan Âm trong cảnh trang nghiêm và thần kín.

Đoàn ghé xuống biển tắm trong khoảng thời gian ngắn nhưng cũng đủ vui chơi thoả thích. Biển vào chiều thật đẹp với những cơn sóng nhỏ cuốn vào bờ bên cạnh những tảng đá lớn tưởng chừng như những ông Bụt đang ngắm nhìn cảnh sóng của biển. Quả đúng như tên gọi của nó - Bãi Bụt.


    Đoàn chúng tôi bắt đầu trở về vào lúc 4h15 trong cảnh ca hát tưng bừng trên chiếc xe mang biển hiệu 43H - 4609 và trở về trường ĐHSP đúng vào lúc 5h .Vậy là chuyến đi thực tế của chúng tôi đã kết thúc. Vừa là khách du lịch, có lúc là hướng dẫn viên, người nghiên cứu văn hoá, chuyến đi thực tế đã mang lại kim nghiệm cho những lần sau và tôi cảm thấy hiểu biết, tự tin hơn để nói với mọi người về những nơi đã đi qua, cái nhìn về cảnh quan du lịch Việt Nam rộng hơn với nhiều điều khám phá thú vị. Chuyến đi cũng dã gắn kết chúng tôi lại bên nhau, những người làm công tác nghiên cứu văn hoá trong tương lai.


 
ĐN: 11/5/2010
Nv:VDN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=230567

TÔI YÊU EM
doanngot0109 | 09 May, 2010, 10:25 | Chung | (52 Reads)

TÔI YÊU EM NHƯ RỪNG THÔNG BÁT NGÁT

XANH BIẾC BỐN MÙA KHÔNG HÉO ÚA VỀ ĐÔNG

TÌNH CỦA TÔI NHƯ DÒNG NƯỚC ÊM ĐỀM

TRÔI CHẢY MÃI VỚI DÒNG SÔNG VÔ TẬN

TÔI YÊU EM MỘT TÌNH YÊU THẦM LẶNG

THA THIẾT NHẸ NHÀNG NHƯNG MẠNH MẼ BÃO GIÔNG

BỞI GẦN EM NÊN TÔI MỚI CẢM THÔNG

DÙ HAI ĐỨA ĐÔI BẾN BỜ XA CÁCH

TÔI YÊU EM NHƯ MỘT CƠN GIÓ LÓC

CUỒN CUỘN XÓAY VÀO ĐIỂM TỰA TÌNH YÊU

RONG MÃI TRÔI XUÔI THEO CƠN SÓNG DẠT DÀO

SẼ DÂNG MÃI CHO TÌNH YÊU NGỜI SÁNG

TÔI YÊU EM NHƯ NẮNG HỒNG BUỔI SỚM MAI

SƯỞI ẤM MUÔN ĐỜI KHÔNG LẠNH LẼO TRÁI TIM

VŨ TRỤ BAO LA MÀ TÔI CHỈ YÊU EM

BỞI HAI TRÁI TIM CÙNG HÒA ĐẬP MỘT LÚC

TÔI YÊU EM MỘT TÌNH YÊU CHÂN THẬT

KHÔNG DỐI LÒNG CŨNG KHÔNG HỀ TOAN TÍNH

TÌNH YÊU TÔI LUÔN DÀNH MÃI CHO EM

CẢ HÔM NAY VÀ TRỌN VẸN MAI SAU

TÔI YÊU EM MỘT TÌNH YÊU NỒNG CHÁY

TRONG CƠN SAY TÔI VẪN NHỚ BÓNG HÌNH EM

YÊU EM TÔI DÀNH TRỌN CẢ TRÁI TIM.

ĐN:2009
NV:VDN

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=230205

Tìm hiểu về mối quan hệ Nhà- Làng- Nước.
doanngot0109 | 25 Apr, 2010, 16:43 | Chung | (1173 Reads)
      Có một điều nổi bật là trong quá trình giao lưu và hội nhập quốc tế người Việt Nam luôn có ý thức giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc. Nền văn hóa Việt Nam được hình thành qua nhiều thời đại và chịu nhiều thử thách của không gian và thời gian mà vẫn không ngừng tiến lên khẳng định tính bền vững của bản sắc văn hóa. Có được bản lĩnh và giữ gìn được bản sắc văn hóa dân tộc để có thể truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác chúng ta không thể không nói đến vai trò quan trọng của làng xã, của gia đình.

Nhà- Làng- Nước là ba thực thể xã hội với ba cấp độ khác nhau về không gian kinh tế- xã hội nhưng lại có mối liên quan, liên kết chặt chẽ. Sự thống nhất giữa Nhà- Làng- Nước đã tạo nên một sức mạnh lớn đưa đất nước Việt Nam vượt qua biết bao thăng trầm của thời đại, vẫn đứng vững sau nhiều cuộc xâm lược của những kẻ thù mạnh như: phong kiến phương Bắc, rồi đến thực dân Pháp và đế quốc Mĩ...

Ở Việt Nam, mối quan hệ Nhà- Làng- Nước là mối quan hệ hữu cơ, máu thịt. Có làng mới có nước. Nước hình thành trên cơ sở làng. Mọi người đều gắn bó với làng, với nước. Xây dựng bảo vệ làng là xây dựng bảo vệ nước. Ngược lại, chống lại làng là chống lại nước. Không có ai yêu nước mà không yêu làng. Mối quan hệ Làng- Nước bền chặt như vậy nên trong lịch sử đã có lúc mất nước nhưng không mất làng. Chúng ta có thể thấy thể liên kết cộng đồng Việt Nam chủ yếu theo ba cấp cộng đồng theo trục dọc: Nhà - Làng - Nước. Nhà = Gia đình là tế bào của xã hội. Làng là cộng đồng kết hợp quan hệ láng giềng (xóm làng) với quan hệ huyết thống (họ), mang tính tự quản cao. Nước là quốc gia dân tộc. Năm 1804 vua Gia Long cũng nhận thức sâu sắc sự liên kết cộng đồng làng và nước khi nói: "Nước là họp các làng mà thành. Từ làng mà đến nước, dạy dân nên tục, vương chính lấy làng làm trước". Chúng ta sẽ xét mối liên kết này trên các bình diện : kinh tế, văn hoá, xã hội.

 *Mối liên kết về kinh tế.

 Như chúng ta đã phân tích ở trên. Gia đình Việt Nam truyền thống chủ yếu lấy kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước làm nghề nghiệp chính. Do yêu cầu cần phải hợp tác nên đã dẫn đến sự hình thành làng xã và ở mức độ cao hơn là sự hình thành nhà nước như một biểu hiện cao nhất của sự hợp tác này. Mối liên kết Nhà- Làng- Nước về kinh tế thể hiện qua nền kinh tế tiểu nông. Kinh tế đất nước hay kinh tế trong phạm vi làng xã đều lấy kinh tế hộ gia đình làm cơ sở.

Thực tế lịch sử cho thấy khi kinh tế hộ gia đình phát triển, ổn định thì kinh tế làng xã hay kinh tế đất nước phát triển, ngược lại khi kinh tế hộ gia đình kém phát triển hay suy yếu thì kinh tế đất nước cũng gặp nhiều khó khăn. Trong suốt chiều dài phát triển của lịch sử dân tộc Việt Nam, sức mạnh của làng xã hay Nhà nước đều phải dựa vào nông dân. Đồng thời mỗi nhà muốn phát triển kinh tế đều phải nhờ vào cộng đồng làng xã và nhà nước. Nghề nông trồng lúa nước bắt buộc  ngưòi nông dân phải tát nước khi ruộng đồng thiếu nước và tháo nước ra khi thừa nước, trong hoàn cảnh đó một gia đình riêng rẽ không thể nào tự mình trồng lúa nước được. Do đó phải có tổ chức đoàn kết gắn bó mọi người dân vào một thể cộng đồng chung tức làng xã để điều hòa quyền lợi.

Làng xã ra đời trong môi trường sinh thái học nên nó rất vững chắc, không phải ngẫu nhiên mà làng xã dưới nhiều hình thức khác nhau, tồn tại hàng ngàn năm cho đến bây giờ. Làng do người dân tạo nên thì nó là tài sản chung của mọi người trong làng. Chính điều này mà một gia đình tiểu nông không thể sống tách rời khỏi làng xã, họ phải dựa vào làng xã và nhà nước.

Trong lịch sử nước ta khi nào Nhà nước có những chính sách khuyến khích nông nghiệp thì kinh tế tiểu nông phát triển, ngược lại khi nhà nước suy yếu, không lo quan tâm đến việc phát triển nông nghiệp thì kinh tế tiểu nông không thể phát triển được. Ý thức được điều đó nên các vương triều phong kiến nước ta  nói chung đều có những chính sách khuyến nông tích cực. Mỗi triều đại đều có đặt những chức quan chuyên lo về vấn đề nông nghiệp.

Như vậy chúng ta thấy mối liên hệ giữa gia đình tiểu nông với làng xã, nhà nước là mối liên kết biện chứng có tác động qua lại với nhau, phụ thuộc lẫn nhau. Sức mạnh kinh tế của gia đình sẽ tạo nên sức mạnh kinh tế của làng xã, và sức mạnh kinh tế làng xã lại tạo nên sức mạnh kinh tế của cả nước. Tại sao một gia đình tiểu nông nước ta phải gắn bó chặt chẽ với làng và nước. Xung quanh vấn đề này nhiều người đã đưa ra nhiều cách lý giải khác nhau, có thể tổng hợp lại thành một số ý kiến sau :

Do nước ta thường xuyên phải chịu nhiều thiên tai. Chính thiên tai xảy ra thường xuyên là động lực tạo nên sự hợp tác lẫn nhau giữa các thành viên trong làng xã và cả nước. Rủi ro do thiên tai đem lại khiến cho một cá nhân, một gia đình không thể đơn lập làm kinh tế mà phải có sự hợp tác, cùng nhau giải quyểt của cả cộng đồng đất nước.                                     

Do yêu cầu của việc làm thuỷ lợi cũng là nguyên nhân quan trọng tạo nên mối liên kết Nhà- Làng- Nước về mặt kinh tế. Các chính sách của nhà nước phong kiến qua các triều đại cũng góp phần tạo nên mối liên kết Nhà- Làng - Nước về kinh tế. Đó là chính sách quân điền của nhà nước phong kiến. Theo chính sách quân điền thì ruộng làng nào chỉ được cho làng đó, không được đem ruộng làng này chia cho dân làng khác. Điều này càng cột chặt người tiểu nông vào làng xã. Đồng thời tạo nên ý thức cộng đồng làng xã, gắn các thành viên trong cộng đồng chặt chẽ hơn, để bảo vệ ruộng đất chung và bảo vệ làng. Mặt khác chính sách quân điền vừa tạo nên tính tự quản của làng quê vừa tạo ra một kiểu  làng công xã phụ thuộc vào nhà nước. Nói cách khác ruộng công làng xã và chế độ quân điền là công cụ để nhà nước phong kiến quản lý và khống chế người nông dân, đánh dấu việc nhà nước đã công xã hoá được làng thôn.

Tóm lại chính yêu cầu của kinh tế nông nghiệp trồng lúa nước dựa trên cơ sở hộ gia đình là nguyên nhân quan trọng, chính yếu tạo nên mối liên kết Nhà- Làng- Nước về mặt kinh tế. Đồng thời đến lượt nó, mối liên kết này lại góp phần rất lớn cho kinh tế tiểu nông có thể tồn tại và phát triển.

Kinh tế tiểu nông là nguyên nhân giải thích tại sao kinh tế đất nước ta mặc dầu trải qua nhiều khó khăn do giặc ngoại xâm, thiên tai phá hoại nhưng nền kinh tế nước ta vẫn không bị phá hoại, khắc phục có hiệu quả những trở ngại, khó khăn để phục hồi và tiếp tục phát triển. Nói cách khác nếu không nhờ kinh tế tiểu nông và tái sản xuất nhỏ thì kinh tế Việt Nam không thể tồn tại và phát triền sau những biến động và thăng trầm của lịch sử dân tộc.

*Mối liên hệ về mặt văn hóa - xã hội

     Mối liên hệ này thể hiện ở chỗ: nhiều gia đình họp lại thành một làng và nhiều làng hợp lại thành nhà nước. Giữa nhà nước và làng xã vừa có tính liên kết chặt chẽ với nhau nhưng xét về phương diện nào đó làng xã vẫn có tính độc lập tương đối với nhà nước. Trước hết ta xét tính tự trị của làng xã với nhà nước. Làng Việt Nam mang tính tự quản cao hay nói cách khác đó là tính tự trị. Mỗi làng tồn tại như một tiểu vương quốc độc lập. Nhà nước phong kiến nói chung đều có những cố gắng để nắm lấy làng. Tuy nhiên vẫn không thu được kết quả triệt để, làng vẫn giữ được tính tự trị đặc thù của mình thông qua việc lập hương ước, trong suốt quá trình lịch sử làng xã vẫn giữ được tính tự trị nhất định. Thành ngữ "phép vua thua lệ làng" thường được dùng để nói làng Việt có sự độc lập với chính quyền Trung ương. Làng ̣được xem có tính tự trị, khép kín, độc lập, là một vương quốc nhỏ trong vương quốc lớn. Tính tôn ti trong trật tự của các dòng tộc đã dẫn đến mặt trái của nó là tâm lý gia trưởng, trọng nam khinh nữ và đặc biệt là tâm lý địa phương, cục bộ. Đây là một rào cản rất lớn trong quá trình hội nhập của người nông dân Việt. Làng xã Việt Nam như một vương quốc thu nhỏ với luật pháp riêng (hương ước) tạo nên một sự cố kết, bền vững của làng xã và cũng đã tạo nên tâm lý bè phái, địa phương, ích kỷ. Hương ước của làng xã chính là hệ thống giá trị, chuẩn mực của làng xã, nó quy định cung cách ứng xử, lối sống của cá nhân trong làng, tạo nên sự đồng nhất, mà trước hết là trong dòng họ. Với hương ước sự cố kết trong cộng làng xã tăng lên nhưng có thể làm giảm tính liên kết giữa làng xã và nhà nước, bản thân làng xã có sự "độc lập tương đối" với các đơn vị xã hội khác.     
      Nói làng mang tính tự trị không có nghĩa là làng hoàn toàn độc lập với nhà nước. Thực ra giữa làng xã và nhà nước truyền thống có mối liên kết vô cùng chặt chẽ, chính mối liên kết này là nhân tố dẫn đến sự hình thành nhà nước Việt Nam trong lịch sử. Nhà nước Việt Nam trong thời phong kiến có thể gọi là hình thức siêu làng. Trong tâm thức của người Việt Nam làng bao giờ cũng gắn với nước và ngược lại. Do đó mà trong lịch sử các đơn vị trung gian giữa làng và nước thì luôn luôn thay đổi còn tổ chức của làng thì vẫn luôn được giữ nguyên. Vũ Đình Hòe, một cử nhân luật học thời Tây, từng viết: "Muốn tìm hiểu lịch sử hình thành dân tộc Việt Nam thì phải tìm hiểu cộng đồng làng xã. Vì không có làng xã Việt Nam, thì không có quốc gia Việt Nam". Hương ước tạo nên tính tự trị của làng xã. Nhưng mặt khác chính nội dung hương ước cũng có các điều khoản quy định nghĩa vụ của làng xã với nhà nước. Như vậy từ lệ làng ý thức cộng đồng làng xã đã phát triển thành ý thức quốc gia dân tộc. Với tiến trình lịch sử ấy ý thức ấy sẽ càng thêm sâu đậm, thể hiện tinh thần làm chủ đất nước của tổ tiên ta. Chính hương ước sẽ làm cho nhà nước và làng xã gắn bó với nhau hơn trong công cuộc gìn làng giữ nước. Từ đó làng xã là đơn vị bảo tồn bản sắc văn hoá dân tộc, là cơ sở của xã hội Việt Nam. Lòng yêu nước cũng từ đó mà ra. Nhìn lại tiến trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam, điểm nổi bật chiếm vị trí hàng đầu và trở thành chuẩn mực đạo lý Việt Nam là tinh thần yêu nước, ý chí tự lập, tự cường, truyền thống đoàn kết vì đại nghĩa dân tộc. Cuộc sống lao động gian khổ đã tạo ra truyền thống lao động cần cù, sáng tạo và kiên nhẫn, yêu cầu phải liên kết lại để đấu tranh với những khó khăn, thách thức đã tạo ra sự gắn bó giữa con người với thiên nhiên, giữa con người với nhau trong mối quan hệ gia đình, láng giềng, dòng họ của người Việt cũng như trong cộng đồng Nhà- Làng- Nước- Dân tộc. Đối với con người Việt Nam trong lịch sử cũng như hiện đại, mối quan hệ giữa cá nhân và xã hội hết sức khăng khít trong một hệ thống bền chặt Nhà - Làng - Nước. Điều này được biểu hiện rất rõ ở tính cộng đồng:

" Bầu ơi! Thương lấy bí cùng

Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn"

    Tính cộng đồng bền chặt có ở con người Việt Nam cũng là điều dễ hiểu, bởi vì họ là những công dân của một quốc gia có vị trí địa lý thuận lợi, luôn phải đối mặt với những thế lực nhòm người có mưu đồ xâm lăng và đồng hoá, bởi vì họ là công dân của một đất nước có điều kiện khí hậu "mưa chẳng thuận, gió chẳng hoà "... Trong bối cảnh đó, vận mệnh của cá nhân luôn gắn chặt vào vận mệnh cộng đồng và xã hội và cá nhân sẵn sàng hy sinh những lợi ích riêng để bảo vệ lấy lợi ích chung, bảo vệ được cái chung cũng chính là sẽ giải quyết được cái riêng. Vì thế sau hàng ngàn năm Bắc thuộc, dân tộc Việt Nam vẫn giành lại được độc lập, cốt cách của con người Việt Nam vẫn được giữ vững và phát huy. Bước vào thời kỳ độc lập, tự chủ sau hàng ngàn năm ở triều đại phong kiến, Việt Nam lại bị các thế lực thực dân cũ và mới xâm lược. Trong bối cảnh đó, tính cộng đồng ấy lại được phát huy và khẳng định với một ý chí: "tất cả vì chiến thắng tất cả cho Tổ quốc quyết sinh". Ý chí đó là sợi chỉ đỏ chỉ đạo những con người tạm thời hy sinh những nhu cầu cá nhân (tình yêu, gia đình, mơ ước riêng tư, thậm chí cả sự nghiệp...) để vì cái chung, đó là giành lại độc lập cho Tổ quốc. Người nông dân hết sức coi trọng tập thể, cộng đồng, làm việc gì cũng phải tính đến tập thể. Suốt nhiều thế kỷ, làng xã là nhân tố cơ sở cho hệ thống nhà nước quân chủ tại Việt Nam. Theo GS. Nguyễn Thế Anh, "làng là đơn vị kinh tế, xã hội căn bản của các nhóm người lập cư trong một vùng nhất định. Để hiểu một xã hội, có lẽ cũng cần biết về đơn vị căn bản đó, tức là làng". Lịch sử Việt Nam là lịch sử của một nền văn hóa mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc, là lịch sử của tình đoàn kết, lao động cần cù, kiên nhẫn, sáng tạo luôn "chung lưng đấu cật", đoàn kết yêu thương, mang đậm tư tưởng nhân văn tiến bộ... trong một cộng đồng lớn Nhà - Làng - Nước - Dân tộc. Đó chính là sức mạnh tiềm ẩn, là nét độc đáo riêng, là "hồn thiêng sông núi " của dân tộc Việt Nam. Chính nó là lời đáp cho câu hỏi: Tại sao trải qua 1082 năm đô hộ chế độ phong kiến phương Bắc, không tài nào đồng hóa một con người Việt Nam? Tại sao đứng trước một sức mạnh bạo cường của những tên thực dân, đế quốc dân tộc ta vẫn trường tồn và phát triển? Chính lịch sử đã hun đúc nên chủ nghĩa yêu nước Việt Nam làm cho nó trở thành bền vững, sống mãi. Yêu nước là đá thử vàng đối với mọi phẩm chất khác là phẩm chất chuẩn mực nhất, giá trị cao nhất của con người, biểu hiện tinh thần làm chủ rất cao của con người Việt Nam đối với Tổ quốc, với quê hương, đối với nền văn hóa lâu đời của cộng đồng, là chủ nghĩa anh hùng, là tinh thần bất khuất trong đấu tranh về sự sống còn của dân tộc. Làng là sự tràn ra của nhà, là sự tràn ra của thế ứng xử từ trong gia đình con chị đi, con dì lớn... giữa người làng với nhau. Nước là hình ảnh phóng to cả làng. Và người đứng đầu cả nước cũng coi là gia trưởng, là cha mẹ . Nếu gia đình người Việt cổ truyền được tổ chức tốt nhất để phục vụ sản xuất nông nghiệp trên cơ sở sự thiết lập mối quan hệ bao gồm cả vật chất lẫn tinh thần giữa hai hằng số văn hóa nông nghiệp định cư - định canh. Mặc dầu làng mang tính tự trị nhưng làng Việt Nam không phải là tổ chức khép kín, xét trên mọi phương diện chúng ta vẫn có thể thấy được tính mở của làng. Các yếu tố như chợ làng, các sinh hoạt văn hóa, tôn giáo, lễ hội cũng tạo ra mối liên hệ vùng và trong toàn quốc. Mọi nhà, mọi làng xã trong cả nước ta đều có chung một tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Đây là minh chứng rõ nét nhất cho mối liên hệ Nhà-Làng-Nước về mặt xã hội. Từ tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên đã tạo nên tín ngưỡng thờ các vua Hùng - tổ tiên lớn nhất của dân tộc. Chính việc thờ các vua Hùng đã thắt chặt thêm mối liên kết Nhà -Làng- Nước trong lịch sử dân tộc. Thật hiếm có dân tộc nào lại có ngày giỗ tổ chung cho cả nước như người Việt Nam. Chúng ta đã nói làng Việt Nam mang tính cộng đồng cao. Từ tính cộng đồng làng đã tạo nên ý thức cộng đồng làng. Đây là điều không cần phãi bàn cãi. Mọi người dân trong làng tồn tại với tư cách là thành viên trong làng xã. Chính các tổ chức như xóm ngõ giáp phe phường hội mà mỗi cá nhân là thành viên đã đảm bảo cho cuộc sống ngèo khổ đầy rủi ro của dân làng, giúp họ vươn lên trong cuộc sống. Đây là nguyên nhân tạo nên tính cộng đồng làng. Người Việt Nam khi đi xa luôn dành cho quê hương một tình cảm đặc biệt. Họ luôn tự hào về quê hương của mình. Khi chết họ vẫn mong muốn được an nghỉ trên chính mảnh đất quê hương làng xóm của mình. Ý thức cộng đồng làng trong quan hệ với nhà nước mang tính hai mặt rõ rệt. Một mặt do ý thức cộng đồng làng cao nên dẫn đến tính  tự trị của làng xã, từ đó tạo nên hạn chế là sự cục bộ địa phương, chỉ chăm lo cho quyền lợi của làng mình mà quên đi quyền lợi của cả nước. Nhưng mặt khác ý thức cộng đồng làng là nguồn gốc của ý thức dân tộc, ý thức đoàn kết toàn dân. Lòng yêu nước cũng từ đó mà ra. Do điều kiện khách quan của sự phát triển nông nghiệp lúa nước gắn liền với nhu cầu thuỷ lợi và nhu cầu tự vệ chống ngoại xâm, sự liên kết cộng đồng giữ vai trò quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của quốc gia dân tộc. Do vậy sau khi hình thành, Nhà nước phát triển theo xu hướng chủ yếu là quốc gia quân chủ tập quyền, thống nhất (hiểu theo nghĩa tương đối của từng thời kì lịch sử). Sản phẩm tinh thần được người Việt Nam coi trọng nhất của quá trình lịch sử xây dựng và bảo vệ đất nước, quá trình hình thành, phát triển của quốc gia dân tộc là chủ nghĩa yêu nước, tinh thần dân tộc. Chế độ quân chủ thời thịnh trị mang tính "thân dân", lấy "nước"và "dân" làm gốc (như dưới thời Lí- Trần). Việt Nam coi trọng "trung hiếu" nhưng gắn với với "nước", "dân", đồng thời nêu cao "nhân nghĩa". Khi quyền lợi của làng xã và nhà nước thống nhất với nhau thì ý thức cộng động làng sẽ dẫn đến ý thức dân tộc. Điều này thể hiện rõ nét nhất khi đất nước gặp nạn ngoại xâm. Khi đó sự sinh tồn của làng xã và nhà nước được đặt ra một cách khẩn cấp thì ý thức cộng đồng làng và ý thức cộng đồng dân tộc hòa lại làm một. Lúc đó thì trăm họ sẽ là binh, mỗi gia đình là một pháo đài và mỗi làng là một làng chiến đấu, hình thành nên thế trận đánh giặc của cả dân tộc. Lịch sử chống giặc giữ nước của dân tộc Việt Nam là lịch sử của các cuộc chiến tranh nhân dân. Lúc này sự thống nhất của Nhà- Làng- Nước là sức mạnh vô địch của nhân dân ta, khiến kẻ thù phải lùi bước. Đất nước Việt Nam, nền văn hóa Việt Nam có thể tồn tại cho đến ngày hôm nay, bất chấp phải thường xuyên chịu sự xâm lấn của các thế lực ngoại xâm chính là nhờ mối liên kết Nhà- Làng- Nước đã phát huy tác dụng triệt để. Mối liên kết này không chỉ tạo ra sức mạnh để nhân dân ta chống sự xâm lấn của giặc ngoại xâm mà còn giúp ta giữ được bản sắc văn hóa của mình, tránh được nguy cơ  bị đồng hóa. Như vậy chúng ta thấy mối liên kết Làng- Nước trong xã hội Việt Nam hết sức độc đáo. Nó thể hiện ở chỗ làng vừa liên kết chặt chẽ với nước vừa có tính độc lập tương đối của nó . Điều này có thể được lý giải qua vài nét sau đây :

Thứ nhất, dưới góc độ dân tộc học- pháp luật, thiết chế hoặc tổ chức xã hội nào cũng có cách quản lý của nó để nắm các thành viên theo một quy chế thống nhất. Mỗi làng xã cũng vậy, nó cũng có cách tổ chức quản lý riêng. Không có một cách quản lý dùng chung cho mọi làng xã.

Thứ hai, Nhà nước ra đời trên cơ sở tập hợp các làng xã. Hay nói cách khác nhà nước xuất hiện là tổ chức của nhiều làng. Điều đó có nghĩa là trước khi nhà nước ra đời, làng xã tồn tại như một thực thể riêng biệt với các thành viên, bộ máy quản lý, bộ phận bảo vệ an ninh, quy ước hành động... Có thể nói làng xã như một "nhà nước con". Nhà nước khó có thể "xâm phạm" vào được. Thêm vào đó, sự tồn tại các phe phái, các quan hệ chồng chéo trong làng làm nảy sinh những mâu thuẫn ngầm trong nội bộ từng làng mà nhà nước không thể điều hoà nên đành "để mặc" cho làng xã tự giải quyết.

Thứ ba, Nhà nước để có sức người sức của dùng vào việc công và quốc phòng cần phải có sự đóng góp của người dân. Nhưng người dân lại chịu sự kiểm soát của làng xã về mọi mặt từ lâu đời. Muốn đạt được mục đích nhà nước phải đi đến người dân thông qua làng xã. Nhà nước giao chỉ tiêu, làng xã trực tiếp thực hiện từ việc thu thuế, bắt lính, huy động lao dịch....Như vậy, nhà nước chỉ biết đến làng xã mà không biết đến từng cá nhân. Có thể nói về mặt này, làng xã là công cụ khá lý tưởng phục vụ cho nhà nước. Đổi lại nhà nước muốn làng xã làm lợi cho mình thì đương nhiên phải tôn trọng quyền tự trị hay quyền "độc lập tương đối" của làng.

 Lịch sử trải qua hàng nghìn năm đã chứng minh mối quan hệ không thể thiếu giữa Nhà- Làng- Nước. Đây là ba thực thể xã hội với ba cấp độ khác nhau về không gian kinh tế- xã hội nhưng lại có mối liên quan liên kết chặt chẽ tạo nên sức mạnh của làng, của nước. Có nhà thì mới có làng, có làng mới có nước, do đó không thể tách rời mối quan hệ giữa ba yếu tố này. Sự thống nhất giữa Nhà- Làng- Nước đã tạo nên một sức mạnh lớn đưa đất nước Việt Nam vượt qua biết bao thăng trầm của thời đại, vẫn đứng vững sau nhiều cuộc xâm lược của những kẻ thù mạnh như: phong kiến phương Bắc, rồi đến thực dân Pháp và đế quốc Mĩ...Mối liên hệ Nhà- Làng- Nước trải qua một thời gian dài từ quá khứ đến hiện tại và tương lai sẽ và còn đóng vai trò quan trọng trong quá trình phát triển và xây dựng đất nước.

Trong quá trính phát triển của đất nước ngày nay Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều chính sách quan tâm nhằm thắt chặt thêm mối quan hệ Nhà- Làng- Nước nhằm tăng cường sức mạnh trong công cuộc bảo vệ tổ quốc, bên cạnh đó còn tạo mọi điều kiện để cho mối quan hệ Nhà- Làng- Nước có thể  phát huy những giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc giáo dục thế hệ trẻ về lòng yêu nước, về sự tự hào dân tộc, từ đó tạo cho chúng ta lối sống lành mạnh, trở thành những con người tốt có ích cho quê hương đất nước.

TÀI LIỆU THAM KHẢO.

1. Phan Đại Doãn. (2004). Mấy vấn đề về văn hóa làng xã Việt Nam. Nxb Chính trị quốc gia.

2. Diệp Đình Hòa. (1990). Tìm hiểu làng Việt, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.

3. Vũ Ngọc Khánh. (1993). Tín ngưỡng làng xã, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.

4. Trần Quốc Vượng. (1997), (chủ biên). Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục.

5. Trần Ngọc Thêm. (1999). Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Giáo dục

ĐN: 25/4/2010

     NV: VDN                                       

Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=227687

Lời chào quý bạn đọc vào thăm nhà mới của tôi!
doanngot0109 | 22 Apr, 2010, 17:59 | Chung | (71 Reads)
     
  Kính chào quý vị và các bạn! Vnweblogs là một miền website khá mạnh, nhận thấy ưu thế đó, tôi lập cho mình một blog cá nhân, nhằm đăng tải những bài viết, những chuyên đề văn nghệ. Kính mong quý độc giả ghé thăm!
               Đà Nẵng, 22/04/2010                           Kí bút: Doãn Ngọt
Trackback URL: http://www.vnweblogs.com/trackback.php?id=227120